Ngưu Lang là vị thần chăn trâu của Ngọc Hoàng Thượng đế, vì say mê một tiên nữ phụ trách việc dệt vải tên là Chức Nữ nên bỏ bễ việc chăn trâu, để trâu đi nghênh ngang vào điện Ngọc Hư. Chức Nữ cũng vì mê tiếng tiêu của Ngưu Lang nên trễ nải việc dệt vải. Ngọc Hoàng giận giữ, bắt cả hai phải ở cách xa nhau, người đầu sông Ngân, kẻ cuối sông.
Sau đó, Ngọc Hoàng thương tình nên ra ơn cho hai người mỗi năm được gặp nhau một lần vào đêm mùng 7 tháng Bảy âm lịch. Khi tiễn biệt nhau, Ngưu Lang và Chức Nữ khóc sướt mướt. Nước mắt của họ rơi xuống trần hóa thành cơn mưa và được người dưới trần gian đặt tên là mưa ngâu.
Thời bấy giờ sông Ngân trên thiên đình không có một cây cầu nào cả nên Ngọc Hoàng mới ra lệnh cho làm cầu để Ngưu Lang và Chức Nữ được gặp nhau. Các phường thợ mộc ở trần thế được vời lên trời để xây cầu. Vì mạnh ai nấy làm, không ai nghe ai, họ cãi nhau chí chóe nên đến kỳ hạn mà cầu vẫn không xong. Ngọc Hoàng bực tức, bắt tội các phường thợ mộc hóa kiếp làm quạ lấy đầu sắp lại làm cầu cho Ngưu Lang và Chức Nữ gặp nhau. Vì thế cứ tới tháng bảy là loài quạ phải họp nhau lại để chuẩn bị lên trời bắc Ô kiều. Khi gặp nhau, nhớ lại chuyện xưa nên chúng lại lao vào cắn mổ nhau đến xác xơ lông cánh. Ngưu Lang và Chức Nữ lên cầu, nhìn xuống thấy một đám đen lúc nhúc ở dưới chân thì lấy làm gớm ghiếc, mới ra lệnh cho đàn chim ô thước mỗi khi lên trời làm cầu thì phải nhổ sạch lông đầu. Từ đó, cứ tới tháng bảy thì loài quạ lông thì xơ xác, đầu thì rụng hết lông. Có lẽ do tích này mà vùng Bình Định (miền Trung Việt Nam) có từ "quạ làm xâu" nói về những con quạ vắng đi đâu một thời gian rồi trở về với cái đầu trọc lóc trong rất khôi hài Có dị bản khác cho rằng tên gọi của Ô kiều là cầu Ô Thước do chim Ô (quạ) và chim Thước (chim Khách) kết cánh tạo ra
Kính tặng chị Th.Nh và các bạn bên góc nhỏ Văn Khoa
Vào ngôi nhà nguoivankhoa, chợt thấy “góc nhỏ Văn Khoa” với ba cô nàng áo dài trắng, nón lá, xe đạp…Tự nhiên bao kỷ niệm cũ chợt ùa về vây kín cả tâm tư
Quanh quẩn mãi không thoát ra được ra khỏi ngôi nhà xưa cũ ấy, ở đường Nguyễn Trung Trực và Cường Để (cũ)…Nơi đó gói ghém mấy mươi năm hành trang kỷ niệm, không thể nào quên …
*
Hồi đó khi học xong tú tài, tôi rất thích vào Văn Khoa – cũng bởi lẽ mình học chỉ trung bình thôi – không thể nào với cao với những khoa dành cho những bạn học xuất sắc, đó là : nhất Y nhì Dược, tam Kiến , tứ Bách, ngũ Lâm …(Y khoa, Dược khoa, Kiến trúc, Bách khoa và Nông Lâm Súc )
Đó là những trường muốn vô học phải qua một kỳ thi tuyển rất khắc nghiệt . Cũng có trường phải thi tuyển như Sư phạm chẳng hạn , nhưng đó không phải là những khoa …vàng như nói ở trên .
Hồi đó vấn nạn “rớt tú tài anh đi Trung sĩ / Em ở nhà lấy Mỹ nuôi con …” khiến chúng tôi đứa nào xong tú tài rồi cũng phải “chạy trường”.
Học lơ mơ là vào “Thủ Đức” ngay (Thủ Đức là trường sĩ quan bộ binh nơi chứa các cậu Tú thi hỏng tú tài 2 và hỏng đại học) !
Nguyễn Tất Nhiên có một bài thơ nhan đề là “Thà như giọt mưa” , Phạm Duy phổ thành nhạc , lúc đó đã khơi dậy bao nổi niềm của những chàng SV thi hỏng; làm tan vở bao nhiêu mối tình ; làm tiêu tan bao nhiêu ước vọng của tuổi hoa niên …(Nếu các bạn chưa hình dung hết những gì giới trẻ phải gánh chịu trong thời gian ấy các bạn có thể xem thêm entry nầy :
http://thedung1952.multiply.com/journal/item/101/101 ...Người từ trăm năm về ngang trường Luật…
người từ trăm năm về ngang trường Luật…
ta hỏng Tú Tài ta đợi ngày đi
đau lòng ta muốn khóc
đau lòng ta muốn khóc ….
(Lời bài hát Thà như giọt mưa – thơ Nguyễn tất Nhiên) SV văn khoa hồi ấy một số đông rất thích thơ Nguyễn tất Nhiên – trong đó có tôi . Và các anh chị cho rằng đó là một phenomene của thời đại .
Có ba chỗ chứa những chàng sĩ tử thi không đổ vào các khoa vàng . Đó là Khoa học đại học đường, Luật Khoa và Văn khoa.
Cũng còn một số trường không thi tuyển để thu hút những loại sĩ tử như tôi, nhưng ít SV ghi danh như đại học Đà Lạt, đại học Hòa Hảo v..v…
Trường Luật luôn là cái túi khổng lồ chứa những SV bất đắc dĩ : Chỉ ghi danh lấy giấy hoãn dịch , lấy cours về nhà học , không bắt buộc điểm danh nên rất nhiều “sinh viên” vốn là lính lác, Cảnh sát, công chức ghi danh để đó , tới mùa thi thì tụng ít bài rồi cũng lều chỏng đi thi …!
Năm thứ nhất trường có đến 3, 4 ngàn SV là con số kỷ lục ! Đến hôm thi bông mai vàng rợp cả giảng đường (hồi ấy sĩ quan từ đại úy trở xuống đeo bông mai vàng ) và các anh đi hi – nhất là thi Oral thường mặc quân phục để mong có sự chiếu cố của các thầy.
Viết đến đây tôi chợt nhớ đến một entry của một chị bên “góc nhỏ VK” kể rằng chị là GV, sau 30.4 chị không được xếp biên chế là GV cấp 3 , lý do bằng cử nhân của chị là cử nhân triết !!!
Tôi cũng vậy, sau 30.4 tôi bị sổ toẹt bằng cử nhân Luật và chỉ tính là có tú tài, chiếu cố cho dạy cấp 2 !!!
Người CS không khoái hai thứ văn bằng ấy và cho rằng người học những khoa đó là có đầu óc duy tâm, tiêm nhiễm tư tưởng phản động , không xài được . Nhiều thằng bạn học cử nhân tự do bên Khoa học dạy rất kém , nhưng được biên chế và lên dạy cấp 3 lương cao gần gấp rưởi tôi. cười vào mặt tôi : Cho mầy theo mấy ổng he …Lại đảng viên nữa chứ …
Mãi rất lâu , rất lâu về sau…người ta mới hết thành kiến và dị ứng với hai cái bằng Triết và Luật . Lúc đó thì bọn tôi cũng đã …già …Như con Đực của Tô Hoài ngày ngày nằm ở cổng, buồn hiu để nhớ đến một thời oanh liệt của mình .
Người CS thì giỏi nhiều thứ , nhưng về Giáo dục thì còn xơi !
*
Văn khoa thì ít SV hơn Luật, nhưng những người vào đây có chọn lọc . Đa số các bạn nữ đều là học sinh Ban C (Ban văn chương) hầu như tất cả đều ghi danh học ở Văn Khoa.
Ban C là một Ban ít người học , nên các trường nhỏ không chiêu sinh nỗi một lớp ban C ! (Tôi có một entry nói về một mối tình của tôi với một cô gái học Ban C trường Văn Học . Nếu các bạn muốn biết con gái học Ban C bay bướm, lãng mạn và độc đáo thế nào có thể đọc thêm entry nầy :
Các bạn ấy đọc rất nhiều , nói chuyện văn chương rất hay …Có nhiều sách quý của những tác giả trong và ngoài nước . Tụi tôi bên trường Luật đồn rằng muốn có sách của Sagan, của St Exupery (Vol de nuit, Citadelle, le petit Prince…), Erich Segal (Love story), J. London, Mario Puzo (The Godfather …) và v..v…thì cứ sang Văn Khoa tìm …
Tôi và một số bạn Luật yêu thích Văn Khoa, lần mò sang bên ấy chào sân các anh trai và làm quen với những bạn yêu thích văn chương …Chúng tôi xin được một số bài thơ chép tay nóng hổi - bị cấm lưu hành ngoài Bắc (Những đồi hoa sim, một số bài thơ hay của Quang Dũng, Trần Dần…); được các bạn chuyền cho những tập san bị tịch thu vì có những bài bị cho là tuyên truyền CS (Văn, Đối diện…) .
*
Thật ra hồi mới thi đậu tú tài tôi cũng rất thích văn khoa , định sang ghi danh ở đó , nhưng vì không có bạn học bên đó, không ai dẫn dắt…Mặt khác , có mấy tên bạn học cũ học bên Luật rủ sang …Tôi bèn theo các bạn ấy ghi danh học Luật ! Thật là số mệnh phải không các bạn ?
Tôi tuy học Luật, nhưng lòng lúc nào cũng yêu thích Văn khoa nên thường qua đó ngồi học dự thính những cours mình thích , nhờ các bạn mua dùm các cours hay …
Lúc ấy tôi thường qua nghe thầy Tr. giảng về văn chương Việt Nam ; Thầy Kh. giảng về Văn minh VN, GS Th.L giảng về tục ngữ phong dao …. Phải chăng các cours và những vị GS khả kính ấy có sức hấp dẫn tôi khăn gói quả mướp sang đó ngồi nghe ? Chưa hẳn là vậy !
Lý do tôi sẽ nói liền ra đây và cũng thú thật nó đã làm cho tôi trở thành “người Văn Khoa” một thời, thưở còn thanh xuân đầy mộng mơ và ước vọng …!
Số là một hôm tôi “lén” vào học ké giờ giờ thầy Tr. Giảng đường nhỏ, SV đông …tôi len lỏi tìm chỗ ngồi thì một bạn nữ nhường cho tôi ghế bên ngoài, bạn ấy vào ngồi ghế trong .
Tôi cám ơn và ngồi xuống ghế ấy . Sau buổi học đó chúng tôi quen nhau .
Tôi và Thu – tên của nàng – quen nhau một cách tình cờ và đơn giản như vậy , nhưng về sau tôi lăn lóc bởi yêu thương với biết bao điều trắc trở suýt làm hỏng cả một cuộc đời !
Tuy nói là tình cờ, nhưng nếu Thu không phải là Thu mà là một người con gái kênh kiệu, đỏng đảnh khác , đa nghi, và không có chút tình người trong giảng đường hôm ấy thì chúng tôi không thể quen nhau .
Vì Thu có một tấm tình với tôi như vậy nên nhiều lúc chúng tôi suýt chia tay, nhưng mãi còn vướng vít …không thể xa lìa nàng … *
Trường luật và văn Khoa có cam kết với nhau là SV luật đậu cử nhân xong , nếu sang Văn khoa học sẽ được miễn học năm dự bị .
Năm đó tôi học năm thứ 4 Luật Ban Kinh tế thì tôi quen với Thu . Lúc ấyThu đang học năm thứ 3 ban việt Hán .
Tôi sang Văn khoa học dự thính , nhưng thật ra động cơ chính là để gặp Thu . Đó là những ngày vàng son của tuổi trẻ .
Thu thường đi sớm để giữ cho tôi một chỗ, nhưng đôi khi chúng tôi không được ngồi gần nhau mà phải người ngồi trên kẻ dưới , bắt buộc chúng tôi phải “bút đàm” với nhau .
- …..
THU : Chút hết giờ mình đến Givral ăn kem nhé ?
Tôi hơi bối rối, vì trong túi có rất ít tiền , chắc chắn là sẽ không kham nỗi một chầu, dù là café thường, vì Givral có giá đắt lắm , SV nghèo như bọn tôi chưa bao giờ dám bén mảng đến đó .
TÔI : Anh hơi bị kẹt Thu ơi !...
THU : Hổng sao đâu anh…để em tính . Mình rủ thêm Trúc Anh và Thu Hà nữa nghen ?
TÔI : Tính đưa kẻ kiết xác nầy vào rọ phỏng ?
THU : Đã bảo đừng có lo mà …Để đó cho em …
Chầu café kem gần tàn thì Thu liếc tôi và nháy mắt . Em lòn tay dưới gầm bàn khéo léo chuyển tiền cho tôi , chợt tình cờ đụng phải bàn tay mềm mại của em , lòng tôi rung lên một niềm xúc cảm mãnh liệt…
…Nhiều năm sau…dư vị mềm mại của bàn tay ấy và sự chu đáo của Thu vẫn còn đọng mãi trong tôi…
Bố Thu là công chức cao cấp của một Bộ rất béo bỡ nên nhà em rất giàu , Tôi thường thấy em được xe hơi đưa đi học trong những ngày trời mưa …
Nhưng thường Thu vẫn giữ nguyên nét đẹp của nữ sinh Gia Long thời xưa : Áo dài trắng, nón lá che nghiêng đạp xe đầm đi học .
Hình minh họa của bên góc Văn Khoa
…Nhiều buổi tan học chiều, chúng tôi đạp xe song song dưới những hàng cây rợp bóng …Trần Quý Cáp (nay là Võ văn Tần) Duy Tân … Chỉ có Nguyễn Trung Trực là khó vô vì đường Tự Do cấm xe đạp lưu thông.
Nhiều lúc chạy xe song song với nhau trên một đoạn đường dài, chúng tôi không nói với nhau câu nào …nhưng trong lòng chúng tôi có biết bao điều muốn nói với nhau …
Tôi và Thu chưa ai nói tiếng YÊU , chưa một lần nắm tay nhau…nhưng với chúng tôi, tình yêu còn lớn hơn biết bao những lời nói ấy …
Một hôm trong giờ giải lao trên giảng đường , tôi viết gởi cho Thu mấy câu thơ :
Một chiều mây ám mưa tuông Anh đau anh thác em buồn chăng em ? Có buồn ngày ấy xin đem Bài thơ tình cũ mà xem đoạn nầy Anh yêu em mãi đến ngày Hồn anh theo cánh chim bay về trời …
Và Thu trả lời :
… Ngàn năm một dạ người ơi ! Trăm năm em hứa một lời đinh ninh Ngày nào còn chuyện chúng mình Em còn ghi tạc chuyện tình đôi ta …
Đó là mấy câu thơ duy nhất được chúng tôi trao cho nhau như một lời hẹn hò đinh ninh, son sắt của một chàng không phải xuất thân từ Văn Khoa với một cô gái Văn Khoa trên giảng đường !
*
Ngày 30 tháng 4 !
Một biến cố lớn lao trong lịch sử của dân tộc ta làm cho nhiều gia đình đã rời quê hương đi đến xứ người . Trong đó có gia đình của Thu .
Cánh nhạn bặt tin từ đó .
Tôi không biết Thu ở đâu ? Còn, Mất , Sống ra sao ?...
Mới đây, một người bạn cho tôi biết có tin của Thu . Em đang ở Cali . Em nói năm nay sẽ về thăm Văn Khoa và bạn cũ …
Bạn cũ nào ? Không biết trong đó có tôi không ?
…và không biết bây giờ Thu còn đạp xe nổi song song với tôi đi hết con đường Trần quý Cáp hay không ?
Thu ơi ! Văn Khoa ơi ! Biết đến bao giờ gặp lại nhau ? Những kỷ niệm ngày xa xưa ấy có còn đọng lại trong em chút nào không hở em ?
Còn tôi ? Ngày ấy – bây giờ vẫn một tâm tình như trước 75 .
Ta về ngang nẽo Văn Khoa , Lòng ôi thương nhớ người xa chưa về !!
Mẹ tôi chỉ có một mắt. Tôi ghét bà ấy...vì bà chỉ gây khó khăn bối rối chotôi.
Bà làm nghề nấu ăn cho học sinh và thầy cô giáo để nuôi sống gia đình.
Có một ngày ở trường tiểu học, mẹ tôi đã đến thăm tôi. Tôi thật bối rối.
Tại sao bà ấy có thể làm chuyện này đối với tôi? Tôi không muốn biết đến bà ấy. Tôi nhìn bà bằng đôi mắt thù hận và bỏ chạy ra ngoài.
Ngày hôm sau ở trường, một đứa bạn học cùnglớp đã nói với tôi: “Ê...mẹ mày chột mắt”.
Tôi chỉ muốn độn thổ và muốn mẹ tôi biến đi.
Hôm đó về nhà chạm trán với bà, tôi đã nói: “Nếu mẹ chỉ làm trò cười cho mọi người đối với con, sao mẹ không chết đi cho rồi?”
Mẹ tôi không trả lời...
Tôi không thể ngừng lại một giây để suy nghĩ tại sao tôi lại nói với mẹ như vậy, bởi vì trong lòng tôi tràn ngập sự giận dữ. Lời nói của tôi đã làm bà sững sờ.
Tôi muốn rời khỏi căn nhà đó và không còn muốn dính dáng gì với mẹ tôi nữa.
Vì thế, tôi ra sức học hành để được xuất ngoại du học ở nước ngoài.
Sau đó,tôi lấy vợ,tậu nhà riêng và có con cái.
Tôi đã sống một cuộc đời hạnh phúc với các con tôi, thật là thoải mái.
Một ngày nọ, mẹ tôi đến thăm tôi.
Đã nhiều năm, mẹ không gặp tôi và chưa hề biết mặt các cháu nội.
Khi mẹ tôi đến trước cửa nhà, các con tôi trông thấy đã cùng cười chế nhạo.
Tôi la lối mẹ tôi sao không mời cũng đến.
Tôi đã hét vào mặt mẹ tôi: “Tại sao bà dám đến nhà tôi, làm cho các con tôi sợ?
Hãy cút đi khỏi đây, ngay bây giờ!”
Mẹ tôi nghe thế, chỉ lẳng lặng trả lời: “Ô, xin lỗi. Tôi đã lầm địa chỉ”.
Rồi bà đi mất dạng.
Một ngày kia, tôi nhận được thư mời đến tham dự ngày Hội Ngộ của trường cũ.
Tôi nói dối vợ phải đi công tác kinh doanh.
Sau buổi Hội Ngộ, tôi tò mò ghé qua căn nhà cũ nơi mẹ tôi ở. Người hàng xóm cho biết, mẹ tôi đã chết. Mắt tôi ráo hoảnh không hề tỏ ra một chút tiếc thương.
Họ đưa cho tôi một lá thư, nói rằng của mẹ tôi muốn trao cho tôi. Lá thư viết rằng:
“Con trai yêu quí nhất đời của mẹ,Lúc nào mẹ cũng nghĩ đến con.
Mẹ xin lỗi đã đến nhà con và đã làm cho sắp nhỏ sợ hãi.
Mẹ rất vui mừng khi hay biết con sẽ đến tham dự ngày Hội Ngộ.
Nhưng mẹ bị bệnh nằm liệt giường, không thể dậy để đến thăm con.
Mẹ cũng xin lỗi, đã thường làm con phải bối rối khó chịu khi lớn lên.
Con biết không, khi còn rất nhỏ con đã bị tai nạn và mất đi một con mắt.
Là một bà mẹ, không ai có thể đứng nhìn con mình lớn lên tàn tật, chột mắt, nên mẹ đã tặng một con mắt của mẹ cho con.
Mẹ rất hãnh diện được thấy con trai mẹ đã thay mẹ nhìn được toàn vẹn thế giới mới trong đó có một con mắt của mẹ.
Với tất cả tình yêu thương của mẹ.
Mẹ của con”
(Trích: Tuyển Tập Những Câu Chuyện về Luân Lý Đức Hạnh)
Tôi rất thích nghe nhạc , nhưng bắt đầu từ lúc bé thơ tôi chỉ nghe vu vơ vài bản nhạc dân ca trên radio; rồi nghe các anh chị hát thuộc lòng một số bài hát dân gian, nghe chị tôi hát những bài hát mà hồi đó người ta gọi là nhạc cải cách …
Nhưng bài hát nầy không phải là hay cho lắm , nhưng nó đã ăn sâu vào tâm não của tôi nên mỗi lần nghe lại như có âm hưởng của quê nhà của tiếng chày giã gạo , của tiếng kẽo kẹt võng đưa trong những buổi trưa hè ; của ánh trăng bàng bạc trên sông , xa xa có tiếng chó sũa vu vơ …
Những thứ ấy nung đúc tâm hồn tôi khiến cho tôi sau nầy có một cách thưởng thức âm nhạc khác những bạn cùng thời . Có lẽ từ buổi thiếu thời, thuở ấu thơ nhưng âm hưởng đó đã hằng sâu vào tâm khảm của tôi .
Ngày nay , người ta còn lấy nhạc cổ điển cho bé nghe lúc mẹ còn đang mang thai bé …(Link)
Trong giấc ngủ tôi đã từng nghe chị tôi hát những bài nhạc cải cách ấy và giấc ngủ cô miên vẫn còn mãi ghi nhớ sâu đậm những âm điệu ngọt ngào của thời niên thiếu
“Đêm nay thu sang cùng heo may … “ Đêm nay sương lam mờ chân mây…” (Con thuyền không bến)
Hoặc :
“ Lệnh vua hành quân trống kêu dồn … “ Quan với quân lên đường …” (Hòn vọng phu)
Hay :
“ Quê hương anh nước mặn đồng chua … “ Làng tôi nghèo đất cày lên sỏi đá …” (Tình đồng chí)
Mãi về sau…Lâu lắm về sau , mỗi khi nghe lại những bản nhạc nầy hồn tôi đi ngược về thời gian ấy , dù nghèo khó , gian khổ nhưng rất đẹp đẽ , thân thương …và tâm trí tôi, đời sống âm nhạc của tôi không bao giờ thoát khỏi những âm ba ngày ấy .
*
Khi thằng cháu tôi bắt đầu biết nghe nhạc , biết thích những lời ru của mẹ hay bà nó …thì tôi chợt nhớ đến những gì tôi đã nghe được hồi thơ ấu …
Nhưng mẹ của bé là dân Ýe Ýe không biết hát những bài nhạc dân ca và tình ca , còn bà nó thì hát ru rất kém, bà chỉ biết có vài câu ru , hát đi hát lại thằng bé không chịu ngủ …
Tôi hỏi : Bà có biết bài Gạo trắng trăng thanh không ? Biết bài Trăng rụng xuống cầu, Hòn vọng phu, Duyên quê …không ?
Bà của bé nói biết , nhưng khi hát bài Gạo trắng trăng thanh bà thưởng quên lời và chỉ ư e theo giọng nhạc …” Ti ti ti…ti tì ti…ti tí ti ti ti tì ti ti …”(trong đêm trăng , tiếng chày khua ta hát vang trong đêm trường mênh mang …”) .
Một thời gian sau, khi bé biết nói , một hôm chúa nhật tôi ở nhà , đem bé lên võng đưa ngủ , bé kêu tôi hát bài ti ti…(?) Tôi đớ người ra , sau mới biết đó là bài Gạo trắng trăng thanh . Và tôi hiếu ..:âm thanh “ti ti ti…” … đã ăn sâu vào tâm hồn thằng bé …
Khi thằng bé được 3, 4 tuổi tôi tạo cho nó một Folder trong máy tính với tiêu đề là nhạc Bin (Bin là tên thân mật gọi trong nhà) và mở cho nó nghe .
Khi nó được 4 tuổi nó biết chọn thời gian để nghe nhạc . Ví dụ nhà có khách hay đang mở TV thì không bao giờ nó xin mở nhạc để nghe …
Đặc biệt là trong giấc ngủ trưa, vào những ngày nghỉ học khi tôi đưa nó trên võng thì tằng bé đều xin tôi mở nhạc bằng điện thoại cho nó nghe và thường chỉ nghe 1,2 bài là thằng bé chìm vào giấc ngủ cô miên .
Tôi nhìn vẻ mặt thằng bé trong giấc ngủ say như phản phất một nét cười tươi, như có một nỗi vui mừng trên gương mặt thơ ngây của nó …
Hình như những âm thanh quen thuộc nầy vẫn còn vương vấn lấy nó trong giấc ngủ say …bởi tôi thử tắt nhạc thì nó liền mở mắt ra . Tôi biết rằng nó vẫn còn NGHE , nên tiếp tục mở lại …
Và trong nhà tôi, dòng “nhạc Bin” cũng có ảnh hưởng rất nhiều đến mọi người .
Đối với Bin, khi nghe bất cứ bản nhạc nào khác không phải là “nhạc Bin” nó đều không thích , và thường bỏ đi chỗ khác . Tôi muốn bổ sung một bài hát vào list nhạc của nó cũng lắm công phu …dẫn dụ cho nó nghe và thích một bài không phải dễ …
Dòng nhạc dân ca , Tình ca xưa với âm điệu Rumba, Bolero đã ru ngủ thằng bé trong thời thơ ấu đã un đúc cho nó một tâm hồn đậm sắc màu quê hương đầy hoa thơm cỏ lạ …với cánh đồng lúa vàng , với cánh cò điểm xuyết trên bầu trời hoặc ánh trăng soi trên dòng sông có gợn sóng nhấp nhô …mà Hoàng Thi Thơ gọi là “Trăng rụng xuống cầu …” Rồi trên dòng sông rắc bao nhiêu ánh vàng ấy , giọng hò lơ với câu thơ lục bát hay mái chèo điểm nhẹ trên sông vắng với giọng hò khoan làm mê hồn người …
Khi thằng bé có chuyện không vui như bị rầy hay làm mất đồ chơi …tôi thường dẫn dụ nó :” Nghe nhạc Bin không ?” …và sau vài bản là thằng bé vui vẻ lại ngay …
*
Thử nghiệm của tôi trên bản thân mình và trên thế hệ thứ ba đã có những kết quả bước đầu . Tuy nhiên , đối với thằng Bin , về sau tâm hồn nó thế nào ? nó thưởng thức âm nhạc ra sao ? tôi chưa biết . Bởi ngoài nỗ lực của gia đình và bản thân , nó phải sống trong một xã hội bát nháo…rồi thầy cô và bạn bè của nó nữa cũng ảnh hưởng tới nó không ít . Tôi không biết về sau thằng bé sẽ ra sao ?
Nhưng khi người ta cho thai nhi nghe nhạc cổ điển thì kết quả không thể đo đếm được , nhưng người ta biết chắc rằng tốt.
Sự việc phát triển có tính cách thầm lặng hơn , bởi chúng tôi ở riêng đã lâu và có công ăn việc làm tương đối ổn định .
Tôi ở tận Thành Phố Hồ Chí Minh nên hễ có dịp là Ba tôi viết thơ cho tôi . Thơ thường chỉ là hỏi han , dặn dò , khuyên bảo … Ít khi Ba tôi tâm sự với tôi về những chuyện trong nhà , những điều Người quan tâm, lo nghĩ …
Song, có lần tôi nhận được một lá thơ của ông , đọc xong tôi khóc mấy ngày liền …
"Bao thơ" của người già...
Nhưng lúc đó tôi đang bị chuyển công tác , nhà rất nghèo , tôi không làm sao tìm được tiền để đi xe về quê thăm ông …
Ba tôi là một người cha kín đáo , rắn rõi , chúng tôi ít khi nào thấy ông khóc ; nhìn bên ngoài chúng tôi cũng ít khi nào thấy ông biểu hiện tình yêu thương các con một cách lộ liễu.
Thế mà hôm đó tôi lại được cái thơ nầy !
Lòng tôi xao xuyến bâng khuân khôn tả . Những chuyện vui buồn của cuộc đời đâu còn có nghĩa gì nữa ! Đột nhiên tôi thấy mình còn bé bỏng như những ngày xưa , sống dưới mái nhà êm ấm , mọi việc đều đã có Người !
Trong tất cả anh chị em tôi chắc không có ai được một bức thư như thế . Tôi không biết làm sao nói hết với các anh chị em rằng chúng tôi có một tình thương như vậy ở một người cha mà có thể vì thiếu tinh tế nên chúng tôi không cảm nhận được . Nhưng mà anh chị em tôi có biết điều ấy hay chưa ? Hay là chỉ có mình tôi đến giờ tôi mới biết ?
Kể từ ngày ấy những chuyến phà chở tôi từ bắc Bình Minh sang đã chứa một trái tim nóng bỏng , đập rộn ràng như những ngày tôi về quê lúc mẹ tôi còn sinh tiền - và tôi cũng bỏ xe từ bên kia bắc Bình Minh , đi xe ôm một mạch về nhà …
Anh Hai tôi thì may mắn hơn tôi và tư Hùng vì được ở gần Người . Lúc nào thấy nhớ thì vô thăm . Niềm hạnh phúc đó thật là vô giá .
Còn tôi và tư Hùng thì đi làm ăn xa. dù có nhớ nhà cũng không thể nào đến được liền như ý muốn .
Mấy lâu nay tôi cùng đi xuống Nhu Gia làm ăn với anh Tư tôi . Nhu Gia chỉ cách Cần Thơ 15.000 đồng tiền đò , xe . Song mấy tháng qua tôi cũng ít có dịp về thăm Người . Công việc cứ cột tôi mãi lại nơi nầy .
Có những buổi chiều rán vàng lên đỏ cả chân trời , tôi ngồi trước Trại một mình nghe thời gian và không gian tĩnh mịt đi vào buổi chiều hôm … Có tiếng những con nhái bầu kêu nhắc nhen đều đều trong buổi hoàng hôn ; tiếng con cúm núm gọi bạn xa xa … và đôi khi con bìm bịp kêu nước lớn …
Cảnh trời chiều làm cho tôi nhớ Cần Thơ, nhớ Ba tôi da diết , thổn thức cả con tim . Song nỗi cô đơn trong lòng và những giọt nước mắt chảy dài trên má tôi cũng không thể giúp tôi gặp được Người !
Màn đêm dần xuống bao phủ cả không gian , nhưng tôi như trong một tâm trạng hôn mê , không ý thức được những gì xảy ra trong thực tế … và tôi vẫn ngồi đó để mặc cho tâm hồn dẫn dắt đi thơ thẫn về con đường nhựa vào nhà Khải với một chút ảo vọng sẽ gặp được ông Khách Bán Cừ năm xưa để cho lòng tôi vơi bớt nỗi nhớ thương và Người ấy cũng được mừng vui khi gặp lại đứa con ở một phương trời xa đã lâu rồi nó chẳng về thăm …
Nhưng rồi đàn muỗi hằng vạn con xông vào cắn tôi đau buốt tôi mới choàng tỉnh mộng : thì ra tôi vẫn còn ngồi tại Phú Hưng ! Chuyện về thăm Người trong lúc ấy chỉ là ảo mộng !
Tôi không biết tại sao từ khi mẹ tôi mất đi thì trong tâm linh tôi hay có nhiều ảo vọng và ảo tưởng như vậy . Kể cả những bài thơ tôi viết cho các anh chị em tôi : Thơ cho Chị :
Chị về chị có nhớ chăng ? Em về em nhớ ngàn năm nụ cười , Giờ đây vật đổi sao dời , thì thôi chỉ gặp lại Người trong mơ !...
Thơ cho PHƯỢNG :
Em về em có trông chờ , Gặp người năm cũ bao giờ chăng em ? Thì thôi, thao thức qua đêm , Đành mơ bóng cũ qua rèm song thưa …
Thơ cho tư HÙNG :
Anh về sớm nắng chiều mưa , Có bao giờ thấy Người vừa đâu đây ? Ôi xa cách bấy nhiêu ngày, Mà anh có thấy sao dài thiên thu ?
Thơ cho ANH HAI :
Chiều nay anh ghé qua đây , Nhớ hình bóng cũ ngày nầy chăng anh ? Cảnh nhà cô quạnh buồn tênh , Tìm đâu lại thuở ngày xanh năm nào , Em về em ngỡ chiêm bao , Nhớ Người như vẫn hôm nào còn đây … Tưởng như vẫn được sum vầy , Rồi tan giấc mộng lòng đầy đau thương !
*
Sự vô vọng , tuyệt vọng sẽ sinh ra ảo tưởng và ảo vọng . Song ảo tưởng và ảo vọng đôi khi cũng nuôi nấng lên thành niềm hy vọng . Tôi sẽ chứng minh rằng ảo vọng có nhiều khả năng thành hy vọng .
Trong hồi ký nầy có nhiều đoạn tôi nói những chuyện về mẹ tôi . Phải chăng tôi đã lạc đề ? Không hẳn là như vậy, bởi những chuyện gì ở Ba tôi đều có những mối quan hệ lôgic đến Mẹ tôi . Đó là mối quan hệ tất yếu không thể tách rời được .
Cũng vậy , những chuyện về ảo tưởng , ảo vọng và hy vọng tôi vừa đề cập ở trên thật ra cũng có nhiều quan hệ nhân quả .
Nhà tôi ở Thành Phố thuộc khu dân cư , chung quanh hoàn toàn không có cây cối , song đã có hai lần : một lần vào năm 1989 và một lần vào năm 1994, ban đêm có một con bướm rất to bay vào nhà … Bướm bay lượn lờ , đậu chỗ nầy một chút , chỗ kia một chút và sau cùng đậu lên bát hương thờ mẹ tôi !
Bọn trẻ tắt hết quạt trần và kháo nhau rằng bà nội về thăm ! Chúng đốt nhang và van vái Bà …
Sáng hôm sau thì bướm đi đâu không biết , song cả hai lần đều có một kết quả như nhau là hôm sau Ba tôi lên Sài Gòn !
Tôi là một người không tin chuyện dị đoan , song tôi tự hỏi : Phải chăng không thể phủ nhận rằng có một chút gì đó trong chuyện nầy ?
Một lần khác , khoản năm 1997, tôi nằm mơ thấy mẹ tôi. Tôi không thấy được gương mặt Người , chỉ thấy dáng mẹ tôi mặc cái áo màu tro quen thuộc và trong mộng tôi biết rằng mẹ nói lên Sài Gòn thăm chúng tôi …
Sáng ra tôi nói với cả nhà rằng tôi mơ thấy Bà Nội lên thăm và chiều nay mình sẽ làm cơm cúng Bà …
Tôi cũng không chờ đợi một điều gì cả . Song đến khoản 9 giờ khi tôi đang làm việc trong sở thì được điện thoại của thằng cháu - con chị tôi - báo rằng Ba tôi vừa lên tới !
Lòng tôi run lên một cảm giác kỳ lạ xao xuyến , bâng khuâng… Tôi nhìn quanh quất và nghĩ rằng mẹ tôi đang hiện hữu đâu đây !
Ôi ! Phải chăng Nguyễn Du nói đúng …"Sống là thể phách, thác còn tinh anh " ?
Về chuyện con Bướm thì trong gia đình tôi cũng đã xảy ra mấy vụ , và ai cũng tin rằng có một cái gì đó không thể nào giải thích được .
Riêng đối với tôi thì sau ba lần đó tôi đã nghĩ mãi về Người và tôi tin rằng Người không thể nào quên được chúng tôi và ông Khách Bán Cừ . Không quên được thì càng vấn vít và giữa sự sống , cái chết sẽ không còn ranh giới nữa ! Sự trở về thăm những người thân thương của người đã chết là một tất yếu hoàn toàn có thể xảy ra .
Mẹ ơi ! chúng con vẫn cầu mong cho mẹ được an giấc ngàn thu , nhưng sao chúng con vẫn hy vọng là có mẹ về thăm chúng con …
… Và hôm nay con chỉ mơ mộng về thăm người Khách Bán Cừ thôi mẹ ạ ! vì bây giờ trời tối rồi mà con còn ngồi ở đây thì không làm sao đi được dù con rất nhớ Người ấy . Còn mẹ? Hôm nay mẹ có hóa thân làm bướm về thăm ngưởi ấy không hở mẹ?
Suốt tuần tôi chỉ chờ ngày thứ bảy là ngày Khải xuống, để có một chút tin tức vế Người - và y như một đứa trẻ trông mẹ đi chợ về , lúc nào tôi cũng có quà của ba tôi . Quà quý nhất là báo cũ .
Ở cái chợ Nhu Gia có đến 12 tiệm bán vàng nhưng chỉ có một sạp nhỏ bán báo và chỉ bán có hai thứ tạp chí rẽ tiền!
Có lần ông còn cậm cụi làm gởi cho tôi món lỗ tai heo xào với mắm ruốt ngon tuyệt ; rồi tôi còn nhận được mền , vớ, áo dài tay , bánh Trung thu, trà …
Tôi xếp từng món ra và cảm thấy lòng rưng rưng muốn khóc khi biết mỗi thứ quà đó là biểu hiện sự suy nghĩ hằng ngày của Ba tôi về cuộc sống của tôi ở nơi khỉ ho cò gáy nầy . Những sự tưởng tượng phong phú ấy đều đúng cả . Có lẽ ông nghĩ rằng giờ đây tôi thiếu rất nhiều thứ và với tấm lòng thương con, Người muốn bù đấp một chút gì đó cho đứa con mà vì mưu sinh phải bỏ lại tất cả những tiện nghi của cuộc sống ở thị thành , gia đình , người thân, bạn hữu … để đến chốn đồng không mông quạnh nầy .
Nhưng thương và lo cho một đứa thì làm sao cho đủ . Trong khi mỗi đứa trong chúng tôi đều có những vấn đề bức xúc riêng , và đặc biệt năm nay , anh chị em chúng tôi có nhiều biến động trong cuộc sống .
Anh Hai thì quá tuổi hưu đã lâu nhưng vẫn phải cày . Con cái của anh cũng không được như ý . Món nợ ngân hàng chưa có phương cách trả . Chuyện nhà của anh có nhiều lúc làm cho Ba tôi ưu tư không ít .
Chị Ba tôi thì vẫn còn công nợ ; cuối năm lại phải cưới vợ cho thằng con út . Trong đám con của chị , Ba tôi cũng đã nhiều phen gia công khuyên bảo chúng , song Ba tôi cũng thấy rằng số phần của chị tôi là phải cực khổ như vậy . Bao cấp cho con là truyền thống của cả nhà tôi thì còn sửa làm sao được !
Anh Tư tôi thì đã bán cái vuông tôm ở Cà Mau , bán nhà, bán nền thổ cư … và kéo tôi về cùng làm một cái vuông tôm ở Sóc Trăng , chuyến nầy mà thua thì không còn chỗ dung thân .
Làm vuông tôm thì ì xèo cả nước chứ không phải riêng gì chúng tôi : người phất lên thì kiếm mấy trăm triệu một cách dễ dàng ; kẻ thua lỗ thì tiêu tan cả sự sản : Bán đất, cầm nhà…
Trước một sự thử thách như vậy cho cả hai gia đình : anh và tôi , thì tâm trạng của ba tôi dĩ nhiên là rất căng thẳng . Chúng tôi hiểu được ý ông nên luôn luôn phải sống lạc quan để động viên Người , tránh cho ba tôi những chuyện lo lắng vô ích . Chị thứ năm tuy có cơ ngơi làm ăn mới , không còn la lết ở vĩa hè kiếm sống , có nhà tình nghĩa để ở … Song Chị cũng là một trong những người nợ nần như Chúa Chổm .
Cô em thứ Bảy thì làm ăn kém hơn trước , chồng sắp về hưu nên cũng tính mở con đường làm ăn mới : cùng đi nuôi tôm với tụi tôi .
Cô em thứ Tám thì ốm quắc queo , hoàn cảnh kinh tế chưa có lối ra .
Cô Chín và Út cũng đang có nhiều thay đổi trong cuộc sống .
Nhìn chung , chúng tôi đều sẽ có những biến chuyển lớn lao trong năm nay, bởi chúng tôi cũng lên hàng 5 hàng 6… cả rồi . Tuổi hưu đến thì ắc phải có nhiều thay đổi trong cuộc sống , đó là chuyện tất nhiên .
Chuyện nuôi tôm của chúng tôi là ồn ào hơn cả . Nó có ảnh hưởng lớn đến ba tôi vì ông đang ở nhà cô Bảy .
Thêm nữa , những thông tin không tốt lành về những người nuôi tôm cũng làm cho ba tôi lo lắng không yên .
Người già thường bị hạn chế bởi ba vấn đề lớn làm bế tắt cuộc sống , đó là :
- Thông tin ,
- Thực tế của cuộc sống và sự xê dịch ,
- Thu nhập và phân bổ .
Khi người già không được cung cấp một thông tin nào, khi họ không biết được những thực tế của cuộc sống , không đi ra ngoài được , không có thu nhập - không có tiền - thì coi như người đó bị tách rời khỏi môi trường xã hội và cuộc sống đối với họ chỉ còn là đời sống thừa , buồn nản , u uất … Mọi tình cảm đối với gia đình, con cháu không còn nữa .
Chúng tôi đi nuôi tôm ở Nhu Gia là một đề tài lớn của đại gia đình , song ba tôi cũng không đủ thông tin , và do đường đi quá nhiêu khê nên chúng tôi chưa rước ông xuống tham quan , do đó những gì ông biết được cũng chỉ do chúng tôi mô tả mà thôi .
Có lần Ba tôi hỏi Khải : "Ba nghe nói nhà Hùng cất bị lún và vừa rồi tụi nó nói sẽ sửa lại , nhưng sửa thế nào ?
Khải nói là không rõ , nên một lần về thăm tôi phải nói rõ cách sửa chữa cho ông biết . Lúc nào chúng tôi cũng cố gắng cung cấp những thông tin mà ông quan tâm .
Nhìn những chữ mà ông gởi xuống , tôi nghĩ đó là những suy nghĩ , trăn trở của một người cha rất thương con , song tuổi già , sức yếu , dù có lo âu , thương xót đến đâu thì cũng chỉ lo được đến chừng ấy mà thôi ! Quà tuy có ít , song thật ra nó nhiều vô kể . Bởi vì đối với chúng tôi thì vấn đề không phải là vật chất mà là tấm lòng thương con mênh mông của đấng sinh thành. * Năm 1981 , một trong những năm đặc biệt khó khăn của thời kỳ bao cấp . Đất nước ta còn quá nghèo lại vướng vào cuộc chiến tranh với bọn Miên . Cũng năm đó tôi bị "vở kế hoạch" , sinh ra thêm một đứa con nữa !
Nhà ở Cần Thơ cũng nghèo , ăn gạo Tổ với rất nhiều bông cỏ . Song mẹ tôi cũng ráng kiếm đâu ra đưỡc mấy ký nếp và cùng Ba tôi lên Thành Phố, nói rằng để nấu chè ăn đầy tháng cho cháu .
Câu đầu tiên mẹ tôi nói là gần đây bà mất ngủ vì quá lo cho bọn trên nầy - gồm nhà chị tôi, nhà Phượng và nhà tôi - Trong đó chuyện lo nhất là bà tưởng tượng tôi cứ phóng thẳng cái xe vespa từ trong hẽm ra đường, có ngày gặp tai nạn ! … và Ba tôi nói rằn đó là một trong những cái cớ mà mẹ tôi cứ chèo kéo ông phải đi gấp lên Sài Gòn !
Hai người với lý do đem một ít nếp lên ăn đám đầy tháng cho cháu và khuyến cáo tôi không được lái xe ẩu … đã xếp hàng mua giấy xe đi Sài Gòn . Phải chăng đó là những động cơ khiến Ba Má tôi ngồi 168 cây số đường xe đi lên Thành Phố Hồ Chí Minh ?
Tôi không biết, vì tôi không có cái cảnh xa con như vậy .
Song mãi cho đến bây giờ - đã 18 năm qua - mỗi lần tôi phóng xe chạy ẩu tôi đều nhớ đến mẹ tôi và nổi lo âu của Người ngày đó . Lập tức tôi thấy lòng dịu lại với một cảm giác êm đềm khôn tả và tôi cho xe từ từ chạy chậm lại…trong lúc ký ức lại quay về với câu chuyện ngày xưa …
Rất lâu lắm ...mãi sau nầy mới có một người luôn nhắc nhỡ tôi chạy xe cẩn thận mỗi khi tôi chạy xe ra đường ...
Một thời hạnh phúc đó rồi cũng đã đi qua , không bao giờ còn quay về được nữa … tiếc thương cho lắm rồi thì cũng chỉ là mơ mộng hảo huyền mà thôi!
Bây giờ Mẹ tôi không còn nữa; Ba tôi thì đã già hơn lúc ấy rất nhiều , mỗi chuyến đi lên Thành Phố Hồ Chí Minh của Người đã có những vấn đề khó khăn . Ông chỉ có một cớ duy nhất là đi khám bệnh ; không có lần nào ông nói đi Thành Phố là để thăm chúng tôi . Nhưng tôi thấy ông đâu có bệnh gì phải cần đi bác sĩ ? Những chuyến đi của ông tôi thấy có bóng dáng của chuyến đi ngày xưa với Mẹ tôi … Tôi không rõ Chị tôi, Phượng và các anh em có nghĩ như tôi không ?
Hôm nay Thứ Ba 16/10 , tôi đang ở Thành Phố Hồ Chí Minh và tôi hẹn với chị tôi thứ Bảy nầy sẽ về Cần Thơ thăm Người .
Và tôi thấy hạnh phúc xiết bao với nỗi trông chờ : trễ lắm là chiều ngày thứ Bảy nầy tôi sẽ đặt chân lên bến Bắc Bình Minh …
* Khoảng năm 50 , Bà Ngoại tôi vì quá nhớ bọn tôi đã mướn người chèo ghe chở Bà từ Long Bình xuống Láng Dài tìm thăm . Bà đem xuống cho chúng tôi rất nhiều quà ở miệt vườn như chuối khô, mứt , kẹo … Trong đó tôi rất ngạc nhiên là có một số mo cau và gáo dừa !
Hồi đó chúng tôi đã cười Bà : đi chiếc xuồng chèo có mui chật chội rong rũi hằng mấy trăm cây số , trong mui lại còn chở mo cau , gáo dừa !
Đến bây giờ tôi mới hiểu .
Chuyện đó đâu phải là mo cau hay gáo dừa ? mà đó là trái tim vĩ đại của Mẹ , của Bà … Và tôi thấy các chị , em tôi đối với con và cháu cũng không khác gì Bà và Mẹ tôi ngày trước … Đó là một trong những bí mật của trái tim , nó chỉ có lời giải đáp khi người ta có con , có cháu …
Hôm thứ Bảy tuần trước , khi soạn số đồ Ba tôi gởi xuống , tôi không sao cầm được nước mắt .
Cũng giống như Ngoại tôi đem mo cau, gáo dừa xuống Láng Dài năm xưa … Ba tôi cũng gởi cho tôi những gì mà Người suy nghĩ về cuộc sống hiện tại của chúng tôi .
Giờ đây ngồi nhìn các món quà, tôi quên hết mọi chuyện riêng tư , quên hết mọi chuyện đắng cay chua xót của quảng đời qua - chuyện gì cũng là chuyện nhỏ , không quan trọng - chỉ còn lại trong trái tim một niềm hạnh phúc vô biên không có thứ gì sánh nổi !
Nhà sư Thiện Minh nói rằng :"Tình thương của người cha không giống như tình thương của người mẹ . Tình thương của người cha kín đáo , dạt dào , và chân thành hơn . Thường tình như vậy thì ít có vẽ bề ngoài , nên những đứa con nam nữ nào không hiểu thì sẽ không có tình cảm với cha nhiều bằng mẹ ". (Người cha : Sư TM - sdd )
Tôi không tán thành cũng không bài bác quan điểm trên, song tôi nghiệm rằng bình thường, những đứa con nào có sự suy xét thật sâu xa , tinh tế mới thấy được tình thương của người cha .
Cái mền gòn, cái áo dài tay, đôi vớ , chai dầu gió , cái bánh trung thu … tất cả đều như có hồn , có tai, có mắt…len lõi vào tận chỗ sâu kín nhất của tâm hồn tôi đưa tôi quay về quá khứ … và tôi thấy như mình đang nằm trên một chiếc võng của một buổi trưa hè được Mẹ đong đưa , ru hời cho tôi vào giấc mộng !
Mẹ tôi là một người hát ru con rất hay , lời ru có vần , có điệu , giọng khi bổng khi trầm , có ca có kệ … Chúng tôi nằm đong đưa trên võng chỉ nghe được vài câu là đã ngủ say …
Cho đến bây giờ tôi vẫn còn thuộc lòng và còn nhớ 17 câu ru của mẹ tôi … và tôi không thể nào quên !
… "Một mai thiếp có xa chàng , Đôi bông thiếp trả , đôi vàng thiếp xin …"
Mẹ tôi sống với ba tôi có thể nói là một kiểu mẫu của hạnh phúc thời xưa , không bị mẹ chồng ác độc đến đổi phải xa nhau chỉ trả đôi đôi bông là đồ dẫn cưới ; chỉ xin giữ đôi vàng làm kỷ niệm của hai người …
Nhưng Người đã theo Ông Khách Bán Cừ đi đến một nơi rất xa , cho đến ngày ông Ngoại tôi mất cũng không biết tin để về cư tang , báo hiếu .
"Con chim Đa Đa đậu nhánh đa đa … "Chồng gần sao em không lấy em đi lấy chồng xa? " Mai sau cha yếu mẹ già, "Chén cơm đôi đũa bộ kỹ trà ai dâng ?"
Hồi đó chúng tôi ở tận xóm Láng Dài . Cuộc chiến tranh đã đến thời kỳ ác liệt … Tin báo ông ngoại tôi mất khi đó đã đến kỳ cúng một trăm ngày cho ông …!
Giờ đây mẹ tôi không còn nữa , tôi chẳng thể nào nghe lại được tiếng ru ngày ấy ! Chuyện vui , chuyện buồn ngày xưa đã thành chuyện trăm năm cũ …
Song hôm nay tôi ngồi đây nhìn những gì ba tôi gởi xuống cho tôi , lòng tôi xao xuyến bâng khuâng không bút mực nào tả xiết và tôi như nghe lại được tiếng ru hời thuở ấy, đưa tôi vào giấc mộng tuyệt vời ngày xưa trên chiếc võng đong đưa, kẽo kẹt của những buổi trưa hè …
*
Năm nay chúng tôi chuẩn bị ăn mừng thọ thứ 90 của Ba tôi .
Dân tộc ta tuổi thọ trung bình là 60 . Người sống đến 90 là rất hiếm , người sống đến 90 mà vẫn minh mẫn , khỏe mạnh như Ba tôi càng hiếm hơn ! Chúng tôi thật hạnh phúc biết bao khi vẫn còn hội ngộ với Người !
Thời gian thì cứ trôi đi , tuổi của Người càng thọ , song cái đồng hồ cát ấy càng ngày càng vơi đi một cách nghiệt ngã ! .
Tôi mong mõi 9 anh chị em chúng ta mỗi người , mỗi ngày bỏ vào cái bình đồng hồ cát ấy một hạt … bằng những thông tin bằng tạo cuộc sống thực tế, sự đi lại, tạo ra thu nhập cho Người phân phối …
Và chúng mình gót còn đỏ như son, phải không ?
* Khi tôi viết quyển hồi ký nầy tôi in một bảng đưa cho Ba tôi xem và xin người nhận xét .
Trong tập hồi ký "Hình Bóng cũ" của tôi trước đây có rất nhiều hình ảnh của hầu hết những thành viên trong đại gia đình , song những gì nói về Ba tôi rất ít được tôi đề cập tới .
Các anh chị em tôi thường thắc mắc sao trong tập hồi ký của tôi không có tiêu đề "NGƯỜI CHA" ? Tôi cũng là đàn ông - và cũng đã là Người Cha - sao tôi không viết về chủ đề đó ? Phải chăng tôi không có đề tài như nhà sư Thiện Minh (Sư Thiện Minh có xuất bản một quyển hồi ký với nhan đề Người Cha) ; hay là người cha không có gì để viết ?
Không phải như vậy . Song các đề tài viết về người cha rất hiếm , kể cả trong âm nhạc và thơ . Người ta thống kê và thấy rằng cứ 50 tác phẩm nói về người Mẹ thì mới có một bài nói về người cha !
Cho đến khi chấp bút viết những dòng nầy thì tôi cũng không hiểu tại sao như vậy ?
Giờ đây tôi đang ngồi đu đưa trên một cái võng ở một vùng quê để nhớ về một thời xa xưa , khi mẹ tôi còn sinh tiền và chúng tôi hãy còn thơ ấu … chúng tôi cùng quây quần bên nhau trong một căn nhà đơn sơ nhưng đầm ấm .
Dòng hồi ức mãi trào dâng làm cho tôi viết không kịp và tôi nghĩ rằng trong vài giờ nữa tôi sẽ hoàn thành hồi ký đầy những tình tiết xúc động về một người cha mà từ lâu vẫn âm ỉ sống trong trái tim tôi , song tôi không biết .
Sáng nay, Chúa Nhật ngày 24 tháng 10 , một cơn áp thấp nhiệt đới kéo đến đen trời . Hết gió rồi đến mưa dầm lạnh buốt …
Tôi lật lại các thơ từ cũ mà Ba tôi gởi xuống đây cho tôi từ ngày tôi cùng anh Tư tôi xuống làm ăn ở cái vùng quê hẽo lánh nầy . Đột nhiên nước mắt tôi từ từ chảy …
Trưa nay Khải – thằng em rễ của tôi - về Cần Thơ , nơi có Ba tôi đang vò vỏ chờ tin từng đứa con .
Chuyện nhà chuyện cửa , chuyện làm ăn , con cái … của mỗi đứa năm nay sao có quá nhiều vận hạn làm cho Ba tôi không được vui .
Tôi muốn theo Khải đi đò ra Nhu Gia để về Cần Thơ thăm Ba tôi ngay sáng hôm nay … Nỗi nhớ nhà nung nấu trong tim tôi như đốt cháy cả ruột gan … Dù ở Trại không có ai, nhưng tôi không thể ngồi lại đây được nữa …
Tâm trạng tôi bây giờ sao giống như ngày xưa - khi tôi còn đi học ở Sài Gòn - mỗi lần về thăm nhà vào các dịp Tết hay hè… và tôi đã đặt một chân bên kia Bắc Bình Minh !
Tôi luôn luôn bỏ xe đò , không chờ xe qua bắc mà đón xe lôi về nhà … Hỏi lại thì chị Ba tôi và Phượng , cô em thứ chín của tôi cũng có tâm trạng giống như tôi…
Thường tôi hay tranh thủ về thăm nhà vào chiều thứ bảy, đến bên kia Bắc Bình Minh thì trời đã gần khuya . Đứng trên chiếc bắc đang chạy qua sông Hậu nhìn Thành phố Cần Thơ về đêm thật là đẹp và hùng vĩ : ngọn đèn tín hiệu trên cao chớp tắt nhịp nhàng ; ánh sáng của những bóng đèn đêm chiếu rọi lên cao làm thành một vùng sáng mênh mông …
Thật khó mà diễn tả tâm trạng tôi lúc đó… và cũng chính vì thế mà tôi luôn bỏ xe đò để lên xe lôi đi cho nhanh …
Bây giờ tôi đã hiểu vì sao hồi ký NGƯỜI CHA tôi chưa viết …
*
Vào những năm 70 , Mẹ tôi bị một cái bướu cổ càng ngày càng phát triển, và bác sĩ bảo phải mỗ . Cả nhà tôi mọi người đều lo xanh mắt . Mỗ hay không mỗ là một đề tài chúng tôi bàn rất lâu vì cái bướu dạng nầy rất nguy hiểm : lành ít , dữ nhiều ! Đụng dao kéo vào nếu là bướu ác tính thì thời gian kết thúc chỉ tính từng tháng mà thôi .
Song cuối cùng chúng tôi cũng nghe theo lời tư vấn của anh Phán tôi là phải đưa mẹ tôi đi mổ .
Mổ xong phải lấy một miếng đi thử xem coi bướu ấy thuộc dạng nào .
Trong lúc chờ đợi kết quả từ bệnh viện coi đó là bướu ác tính hay bướu lành tính , Ba tôi ở nhà tôi
Tôi còn nhớ, đó là một sáng chủ nhật , hai cha con đi mua một cây đờn kìm … và tôi đã khóc thầm nhiều đêm trên căn gác nhà ở Cầu Chữ Y khi nghe Ba tôi đờn bản Dạ Cổ Hoài Lang …
Sau nầy khi bình tâm lại tôi thường tự hỏi : không biết những giọt nước mắt đó tôi khóc cho Mẹ tôi hay vì Ba tôi trong tâm trạng đợi chờ đầy lo âu , căng thẳng ?
Có lẽ cả hai .
Trong tất cả anh chị em tôi, kể cả mẹ tôi , không ai biết được bí mật nầy của tôi và Ba tôi trong những ngày chờ kết quả thử bướu cho má tôi và về lý do mà hai cha con đi mua cây đờn kìm .
Và cũng chỉ có mình tôi nghe được tiếng đờn kìm ngày ấy với bản Dạ Cổ Hoài Lang …
*
Lần đó mẹ tôi chỉ bị một cái Tumeur mix - nói theo danh từ y khoa là một cái mụt hỗn hợp - vô hại .
Và cũng sau lần đó , Ba tôi treo cây đờn lên chỗ ít thấy nhất , và còn rất lâu nữa tôi không nghe Người đờn bản Dạ Cổ Hoài Lang thuở xưa …
… Nhưng rồi mẹ tôi cũng ra đi trước …
Dự báo những cung bậc u sầu trong bài Dạ Cổ Hoài Lang rồi cũng bật ra thành những tiếng tơ đồng nức nở trong cảnh kẻ ở người đi …
Tôi không được nghiên cứu sâu về âm nhạc và chưa hiểu biết tường tận về những tác động của nó , song khi Ba tôi mua cây đờn kìm lúc Má tôi bệnh nặng là một tín hiệu không vui . Ba tôi lại có ý phổ một bài ca . Phải chăng đó là khúc Phượng Cầu Kỳ Hoàng của Tư Mã Tương Như ? Nhưng hởi ôi ! nàng Trác văn Quân đã ra người thiên cổ thì biết còn ai nghe được khúc nhạc bi thương nầy ngoài những đứa con mất mẹ, lạc đàn ?
Người ta nói rằng trong một gia đình, khi người mẹ mất trước thì đối với lũ con là một sự "rã đàn tan nghé" không sao tránh khỏi được ; còn đối với người cha thì hoặc là đi cưới một bà vợ khác trẻ hơn người vợ đã chết để góp phần làm cho sự rã đám của bầy con nhanh hơn , hoặc là không chịu nổi cảnh cô đơn , người đàn ông sẽ xuống dốc rất nhanh và rồi cũng chết theo vợ ngay ở những năm sau .
Nói khác đi , khi người mẹ chết trước thì gia đình sẽ tan rã , không làm sao cứu vãng nổi .
Sau khi mẹ tôi mất đi thì đối với tôi cái rỗ may, cái ô trầu và cái bếp hầu như không còn nữa ! rồi những ngày giỗ chạp , những buổi tiệc tùng … không còn chút sinh khí nào , mặc dù các chị em gái tôi tổ chức nấu nướng cũng không phải là xoàng , song đối với tôi thì những người nầy không sao thay thế mẹ tôi được .
Ồ! thì ra cái cảnh "rã đàn tan nghé" đã thể hiện ngay chính trong tâm hồn mình chớ có đâu xa ? Phải chăng không có sự hiện hữu của Người thì bầy đàn cũng sẽ không còn nữa , hay đó là tâm lý u buồn của chúng ta đã làm tan rã cảnh sum vầy ngày trước ?
Tôi không biết , Và tôi hy vọng sẽ tìm được câu trả lời trong tập Hồi ký nầy .
Ngày xưa, mỗi khi đến Tết hay Hè tôi đều về Cần Thơ - rất nhanh và rất sớm - dù tôi đã có gia đình , có con …Song tiếng gọi của cái bếp lửa đại gia đình bao giờ cũng mạnh mẽ hơn , cuốn hút hơn . Từ lâu nó đã chiếm trọn trái tim tôi , cho nên không năm nào tôi ăn Tết ở Sài Gòn cả …
… Và bao giờ tôi cũng bỏ xe đò ở bên kia Bắc Bình Minh lên xe lôi đi một mạch về nhà …
Một thời gian rất lâu, sau khi mẹ tôi mất , cái cảm giác nôn nao ấy không còn rõ rệt như trước mỗi khi xe đò đưa tôi về gần đến Bắc Bình Minh …
Còn Ba tôi ? Tuy Người không cầm được ngọn lửa trong cái bếp ngày xưa ấy , song trái với sự lo nghĩ của chúng tôi , ông không sống cô chích giữa đám con - mà vì cuộc sống phải lăn lộn ngoài đời để mưu sinh - nên chúng ít có dịp cận kề an ủi ông những khi sớm nắng chiều mưa …
Ông là người Chồng , người Cha có một ý chí rất mạnh mẽ , biết nén dòng lệ chảy vào tim cùng với những cung bậc u sầu của bản Dạ Cổ Hoài Lang ; còn bản Phượng Cầu Kỳ Hoàng của Tư Mã Tương Như thì ông không còn cơ hội nào để mà gẩy nữa . Nó đã cùng người khách bán cừ năm xưa đi vào giấc mộng cô miên …họa chăng còn thấy và nghe trong những giấc chiêm bao !
Đôi khi trong những đêm trường u tịch , ông mặc một bộ đồ trắng , thong dong ngồi dạo khúc Dạ Cổ Hoài Lang , dáng Công Tử Bạc Liêu , nhẹ nhàng , thanh thoát . Tôi nhìn ông lòng xôn xao biết bao nhiêu hình bóng cũ : Tiếng tàu đò súp lê , cảnh bến sông nhà Ngoại tôi thời đó …
Tôi bồi hồi tự hỏi : Người khách bán cừ năm xưa đó ư ?
Phải ! Đó là ông Khách Bán Cừ ngày ấy . Song tiếng đờn bây giờ là vô vọng , không còn ai để mà nghe nữa … Nàng Trác văn quân đã ra người thiên cổ mất rồi …
Không biết Người còn giữ được chút tinh anh nào để trộm nghe tiếng đàn bi thương ấy hay chăng ?
Tôi làm sao mà biết được ?
Song , Nguyễn Du chẳng đã nói :"Sống là thể phách thác còn tinh anh" đó sao ?
*
Ba tôi là con trai út trong một gia đình địa chủ ở Cà Mau. Sau khi nghỉ học , ông cứ thơ thẫn mãi không chịu lấy vợ . Ông nội tôi mất sớm chỉ còn bà nội . Song Bà cũng chỉ lo quanh quẩn những chuyện nội trợ trong nhà còn chuyện gia thất của Ba tôi thì Bà cũng chưa có chủ tâm .
Lúc ấy ông cậu Mười tôi nói với Ba tôi rằng sẽ làm mai cho ba tôi một cô gái miệt vườn ở Cần Thơ .
Thế là một ngày đẹp trời hai cậu cháu xuống tàu đi Long Mỹ - Cần Thơ .
Hồi đó phương tiện giao thông xa chủ yếu là bằng tàu đò.
Tàu chạy Cà Mau - Cần Thơ là một loại tàu lớn có đủ chỗ cho khách ăn uống , nghỉ ngơi vì phải đi xa mất nhiều ngày .
Nhà ông ngoại tôi ở Long Bình - trên đường tàu đò đi ngang qua . Ông là một nhà nho làm vườn , khoán ruộng và làm thầy thuốc bắc . Nhà tuy không giàu có nhưng sống rất phong lưu .
Ông Cậu Mười nói với Ba tôi :
- Nhà có hai chị em , đứa chị 19 tuổi ; con em 17 . Cháu coi mắt đi rồi cho cậu biết cháu ưng đứa nào để cậu tính . Cậu nói với gia đình là cháu lên đây để đi dọ giá cừ để chở lên bán . Nói như vậy để cho mình tự nhiên hơn …
Người chị thứ sáu là mẹ tôi; còn người em là dì Bảy của chúng tôi sau nầy .
Sau nầy, trong những lúc trà dư, tửu hậu mẹ tôi kể rằng : Ông Cậu Mười nói ổng là khách đi lên dọ giá cừ để bán nên cả nhà cũng không ai để ý ; Má còn vo quần cao , vác một cậy chuối đốn ở ngoài vườn vào nhà sau … Cũng không biết ổng đang đứng ở chỗ cửa giữa ngó lom lom …
Sau khi "dọ giá cừ" hai ngày , hai cậu cháu từ giả ra đi . Cậu hỏi Ba tôi :
- Sao ? mầy chịu đứa chị hay con em ?
- Dạ cô chị …
- Ậy , nhưng mà con chị đâu có lịch sự (đẹp) bằng con em ? - …
Mãi rất lâu nữa về sau nầy khi mẹ tôi không còn nữa, trong những lúc sum vầy, vui chuyện , chúng tôi cũng nêu lên câu hỏi trên , song Ba tôi chỉ cười , không trả lời … và chúng tôi bảo nhau : đó là bí mật về giá cả của Người Khách Bán Cừ …
Một việc nữa cũng làm cho chúng tôi thắc mắc là tại sao không đi dọ giá thứ gì để bán mà lại chọn cây cừ ?
Ba tôi nói là cũng không biết tại sao ông cậu Mười lại chọn thứ hàng đó . Có lẽ vùng Cà Mau có nhiều cây cừ tràm người ta chở đi bán khắp nơi …
oOo
Ba tôi báo cho bà tôi biết là việc coi vợ đã xong . Bà bảo ông ra nhà một ông cậu họ ở xóm ngoài để coi tuổi .
Ông lão lật sách đã đời một lúc sau ông phán một câu xanh dờn :
- Tuổi Hợi và tuổi Sửu nầy không hợp ! Kết vợ chồng là Bắc San Tuyệt Mạng ! Nghĩa là lấy nhau ở không nát chiếc chiếu sẽ có người chết !
Ba tôi vốn theo tây học , song vì chìu ý Bà tôi nên ông mới đi coi thầy đó thôi .
Nghe thầy nói thế , ông cũng không hỏi gì thêm , lăn ra bộ ván gỏ giữa nhà của ông cậu ngủ một giấc . Đến chiều về ông báo với Bà tôi rằng hai tuổi nầy lấy nhau tốt lắm . Nếu cưới gấp trong năm thì còn tốt hơn …!
Sau nầy nếu có vụ cưới hỏi nào gặp trở ngại về tuổi tác ông đều cười nói :"Bắc San Tuyệt Mạng còn không có sao ! Nát biết bao nhiêu chiếc chiếu rồi, có chết ai đâu ?"
*
Nhiều lúc trà dư tửu hậu , chúng tôi hay nhắc lại chuyện "Người Khách Bán Cừ" , Mẹ tôi kể rằng ông đã một lần sử dụng phương tiện văn minh trong chuyện hẹn giờ giấc đám cưới làm cả nhà ngoại tôi một phen lên ruột, nhất là má tôi . Bà kể :
- Ổng "đánh dây thép" lên hẹn ngày , giờ đàn trai tới theo chuyến tàu đò thường lệ …
Ông ngoại tôi cũng theo týp ông già văn minh nên cũng đồng ý cho đàn trai trình ngày , hẹn ngày bằng điện tín .
Thế là nhà ngoại tôi mời khách, vật heo , mổ bò … chuẩn bị tiệc tùng để đón đàn trai …
Mẹ tôi nói rằng tàu Cà Mau lên đến nhà ngoại tôi thường là buổi sáng khoản 9 - 10 giờ , và trước khi ghé bến tàu đều súp lê ( ) như để báo tin cho chủ nhà biết .
Hôm đó không biết tàu bị trục trặc gì mà quá 9 giờ , rồi 10 giờ trôi qua … vẫn chưa thấy tăm hơi con tàu đâu cả …
Cả nhà ngoại tôi ai cũng lo sốt gió !
Bà tôi thì cằn nhằn về "cái sự văn minh" của ông tôi . Ai đời trình báo , hẹn ngày trọng đại như vậy mà bằng điện tín! Ông Ngoại và các Cậu tôi không để lộ sự lo lắng ra bên ngoài , song ai cũng có ý nghĩ rằng nếu như hôm nay đàn trai không lên thì còn gì là thể diện gia đình ! Phải nói sao với họ hàng , bà con về sự vắng mặt không lý do nầy ?
Bạn bè của má tôi bắt đầu nhìn bà với cặp mắt ái ngại. Má tôi nói rằng khi ấy bà làm gì cũng hỏng …
Thời gian chầm chậm trôi đi và càng lúc càng siết chặt trái tim đang thổn thức của bà …
Bỗng nhiên trong cái không khí tĩnh mịt và căng thẳng đó , tiếng còi tàu súp lê vang rền …Tul…Tul…Tu… ul ….!
Tất cả mọi người như bừng tỉnh hẳn .
Má tôi nói rằng lúc ấy bà chạy vào buồng và khóc lén một mình …!
Đó không phải là giọt nước mắt của người con gái sắp lấy chồng xa … mà đó là dòng lệ cho dù ngàn năm nữa cũng không thể tái hiện lại được nỗi niềm . Bi kịch của ngày hôm ấy quá căng thẳng có thể nói là độc nhất vô nhị trong đời sống nên mẹ tôi vẫn còn nhớ mãi mỗi khi Người nhắc lại chuyện xưa … và dòng lệ nóng hổi ấy sẽ còn mãi mãi đến ngàn sau …
Trong phần đầu của hối ký nầy tôi tự hỏi : Không biết ở lúc nào đó mẹ tôi còn nhớ Người Khách Bán Cừ hay chăng ?
Viết đến đây tôi thấy lòng mình xôn xao , tâm hồn rạo rực , tôi phải ngưng lại đi đốt nhang cho mẹ tôi , và tôi van vái rằng Mẹ còn chút anh linh thì hãy về Cần Thơ thăm lại người Khách Bán Cừ . Bây giờ ở đó Người đang cô đơn vò vỏ một mình … Cây đờn kìm tuy không còn dây nữa , song bản Dạ Cổ Hoài Lang Người phổ thì không thể nào quên… Không quên là không thể nào khuây, không khuây là sẽ nhớ mãi mãi đến ngàn sau …
Ôi ! có những điều ta không làm sao mà quên được , và ta cảm thấy hạnh phúc thay ! rằng ta không thể nào quên ! … Song, đau đớn thay ! vết thương ngày ấy vẫn âm ỉ , nhức buốt đến muôn niên !
… Còn con, con sẽ cố gắng tái hiện những giọt nước mắt ngày xưa mà mẹ đã khóc trong buồng bà Ngoại khi nghe tàu súp lê … để Ông Khách Bán Cừ năm xưa và chúng con cùng nhớ da diết về một thuở ngày xanh năm nào rất xa , nhưng cũng rất đầm ấm và không thể nào quên….!
Con người ta khi sự thật làm cho ta tuyệt vọng thì họ hay mơ mộng hảo huyền . Bởi thế trong bài thơ THA HƯƠNG tôi viết năm Bính Tý có đoạn :
… Ta nhớ người xưa đã cách xa… Giờ đây chiếc bóng chỉ mình ta, Nhớ thương thương nhớ đầy trong mắt , Sao vẫn còn mơ Mẹ vắng nhà …!
Và đối với Ba tôi , nỗi nhớ thương Người vẫn không bao giờ tách ra được khỏi hình bóng ấy :
… Tết nầy mình sẽ về thăm Ba , Nhớ sao là nhớ nỗi xa nhà , Mà hình bóng cũ tìm đây thấy , Ta khóc một mình ta với ta !
*
Trong bầy đàn của chúng tôi, Ba tôi không có biệt nhãn đối với bất cứ đứa nào bởi vì ông là trung tâm đoàn kết của đại gia đình . Trong nhà có đứa nào đi chệch hướng là lập tức ông uốn nắn liền , và ông nhất định không chịu bỏ qua bất cứ sự sai sót nào của đám con . Ông không khó chịu kiểu ông già Ba Tri ngày xưa , song đám hậu sinh không thể qua mặt được ông , cũng không thể xem thường ông .
Nhiều người già , sau khi về hưu - nghĩa là không còn làm chủ gia đình về mặt kinh tế - thì không còn chút uy quyền gì với con cái nữa , thậm chí còn bị chúng coi khinh, bỏ đói, bỏ khát sống trong cô đơn, đau khổ , tủi nhục cho đến chết ! Đó là trường hợp của Bác Chín và cô Tám tôi … và còn nhiều , rất nhiều người cha, người mẹ lúc sinh thời cưng con như trứng mỏng , sống khổ cực, lam lũ … mớm cơm khi chúng chưa có răng , cõng chúng đến trường khi đôi chân chúng chưa cứng cáp, rồi từng bước dẫn dắt chúng vào đời … và khi con chim non đã ra ràng , bay ra khỏi tổ thì ít khi chúng quay trở lại ! Cái giường vợ vẫn là nơi vững chảy để cho chúng bám víu (2) .
Ba tôi có cách xử sự của ông . Gia đình anh Hai tôi không nghe lời ông trong việc đoàn kết nội bộ thì ông đã quyết liệt đến độ dự định liều cả sinh mạng trong việc chấn chỉnh gia phong . Đó là lần duy nhất tôi thấy ông rất cứng rắn trong việc giáo dục đàn con . Tuy ông đã gần 90 tuổi , song tuổi tác không làm cho ông suy giảm ý chí quyết đoán của người cha . Ông cũng không bao giờ bi quan , chùn bước trước những tình huống hầu như nan giải . Như vậy sự "rã đàn , tan nghé" khi mẹ mất là không xảy ra , đồng thời với tính cách và sự lãnh đạo sáng suốt của Ba tôi mà anh em, con cháu trong gia đình đã hình thành nên một đại gia đình có gia pháp , đoàn kết , thương yêu, đùm bọc lẫn nhau .
Đối với Ba tôi thì mỗi đứa con có một tánh khí , hoàn cảnh của chúng luôn là đáng thương hơn là đáng trách . Có lẽ do cái nhìn bao dung đó mà ông tập hợp được sự thống nhất của chúng tôi chăng ?
Đối với Chị tôi , lúc nào tôi cũng thấy Người thở vắn than dài về công việc nhà của Chị tôi, rồi những đứa con của Chị chúng chưa biết tự lo , tự chăm sóc … về những nỗi nhọc nhằn , vất vã của Chị tôi từ khi chị mới lớn cho đến lúc tuổi đã xế chiều .
Cũng có lẽ vì thế mà trong đám con gái , ba tôi thương Chị tôi nhiều hơn cả . Những đứa em thì không đứa nào cảm thấy bất công , chúng mặc nhiên công nhận Chị xứng đáng với tình thương của Ba tôi .
Người ta thường nói người cha hay thương con gái và người mẹ thương con trai hơn . Tôi không biết điều đó có đúng không ? Song do đặc tính giống và do đứa con là bản sao của người yêu nên cũng có thể có chút khác biệt trong tình thương cụ thể
Chúng tôi cũng nhận thấy rõ rằng Chị tôi mang sắc thái của Mẹ tôi nhiều nhất trong các đứa con , kế đó là Út Phương cũng mang đậm nhiều nét của mẹ tôi .
Còn bọn con trai chúng tôi ?
Tôi và anh Hai tôi đã rời gia đình từ sớm . Người cận kề Ba tôi là anh thứ Tư của tôi . Anh là kiểu mẫu bậc nhất của đứa con hiếu thảo . Do đó mà Ba tôi đã chọn anh để ở lúc tuổi già .
Song anh là người làm ăn không thành đạt lắm .
Ở với Ba tôi được mấy năm thì anh lại đi làm ăn xa … và những tháng ngày mòn mõi mà công việc không được vuông tròn … anh lại phải dẫn cả bầu đàn thê tử đi làm ăn một chuyến rõ là xa …
Mỗi lần nói về Anh , Ba tôi đều với giọng điệu xót thương , ái ngại , tuồng như Anh và cuộc sống lúc nào cũng có chuyện để Ba tôi phải đắn đo , tính toán hộ với Anh .
Đó là một tình thương thực tế, vô bờ bến , không có giới hạn không gian , và thời gian , không chịu sự chi phối của tuổi tác và sự suy tưởng tầm thường của những người vốn có mặc cảm rằng mình đã quá tuổi về hưu .