Thứ Hai, 13 tháng 7, 2009

KỶ VẬT CHO EM ...




                  


               BÀI THƠ KỶ VẬT CHO EM.

Khỏang thập niên 70, những người yêu nhạc  nhiệt liệt đón nhận bản nhạc Kỷ vật cho em của Phạm Duy , bởi bối cảnh của đất nước và thân phận của những người trẻ tuổi đang ở trong một giai đọan đau thương thảm khốc nhất trong cuộc nội chiến tương tàn .

  Trong tình cảnh đó thì những "Bà Mẹ Gio Linh" , "Con đò đưa xác",  "Nhớ người thương binh", "Đại bác ru đêm" ... đều được người Miền Nam tiếp đón nồng nhiệt .

   "Kỷ vật cho em" cũng thuộc dòng nhạc nầy . Nhưng từ đó đến nay tôi vẫn chưa biết rõ về Linh Phương - tác giả bài thơ , và cũng chưa được thấy nguyên văn bài thơ nổi tiếng nầy .

   Nay tình cờ gặp được và có cả bài viết của Linh Phương nên xin trân trọng giới thiệu đến các bạn  

                                                                                    
   SCL : Khi giới thiệu Nhà Thơ LINH PHƯƠNG ,một số câu hỏi của bạn đọc về Bài thơ “ Kỷ vật cho em “ và chúng tôi đã đề nghị anh viết vài giòng và anh đã nhận lời,chúng tôi cũng mong nhận nhiều ý kiến liên quan,Tất cả  những vấn đề này SCL xem như là tư liệu riêng và trong khi chờ đợi những đánh giá chúng tôi cho rằng  bài thơ này là một trong những bài thơ phản chiến trong đô thị miền nam.
 
  Nhận được e-mail anh Nguyễn Hòa đề nghị viết về những sự kiện quanh bài thơ Kỷ Vật Cho Em ( KVCE) mà nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc gây xôn xao giới yêu thơ, yêu nhạc một thời trước năm 1975. Thực tình tôi không biết khởi đầu từ đâu, và viết những sự kiện gì , bởi rất nhiều sự kiện và mình có nên viết hay không ?
 
   Thôi thì kể lan man một vài chuyện về bài thơ đó vậy, Xuất xứ bài thơ của tôi đăng trên nhật báo Độc Lập vào năm 1970 với tựa đầu tiên " Để trả lời một câu hỏi " đề tặng một người con gái tên Hương. Trang sáng tác của tờ báo này do Ấu Lăng ( tức nhà thơ Trần Dạ Từ chồng của nhà văn nữ Nhã Ca ) phụ trách. Tôi thường xuyên đăng bài ở trang này, có thể nói một tháng 30 ngày thì bài tôi xuất hiện khoảng  hơn 20 ngày với tên Linh Phương -Vương Thị Ai Khanh và Phạm Thị Au Cơ.
 
   Khi nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc với duy nhất tên ông, tôi không có phản ứng gì. Nhưng tôi có người bạn làm việc ở bản tin THT đã đưa vấn đề tác quyền lên trang tin tức của một tờ nhật báo với đại ý " Tác giả Kỷ Vật Cho Em sẽ kiện nhạc sĩ Phạm Duy ra tòa ".Tiếp theo là tờ tuần báo SÂN KHẤU TRUYỀN HÌNH , tác giả Phan Bảo Quân cho in một bài viết đề cập tác quyền và tên Linh Phương phải được để  là đồng tác giả bản nhạc Kỷ Vật Cho Em.
 
   Thời đó ở Sài Gòn có trên 20 tờ nhật báo, 30 tờ tuần báo và rất nhiều tạp chí bán nguyệt san, nguyệt san…Và chuyện tác quyền giữa tôi và nhạc sĩ Phạm Duy đều có bài viết , thư nhạc sĩ Phạm Duy gởi tôi, thư tôi trả lời …hầu hết trên báo chí lúc ấy.Cuối cùng thì một người cháu của Phạm Duy là Phạm Duy Nghĩa tìm gặp tôi tại địa chỉ 104/23 đường Yersin nhà người bạn thân của tôi là nhà thơ Vũ Trọng Quang ( hiện là Hội viên Hội nhà văn Thành phố HCM ).Phạm Duy Nghĩa đưa tôi đến phòng trà ca nhạc ĐÊM MÀU HỒNG nơi Ban Thăng Long thường xuyên trình diễn.
 
   Ở đây, tôi và nhạc sĩ Phạm Duy đã có sự thông cảm với nhau về vấn đề bài thơ Kỷ Vật Cho Em. Nhạc sĩ  Phạm Duy chở tôi trên chiếc xe Trắc-xông đen đến phòng trà Queen -Bee do nhạc sĩ Ngọc Chánh làm chủ xị. Ở Queen-Bee nhạc sĩ Phạm Duy .đã giới thiệu tôi  trước công chúng về tác giả bài thơ KVCE. Sau cái bắt tay giữa tôi với nhạc sĩ Phạm Duy, nhạc sĩ Ngọc Chánh và quái kiệt Trần Văn Trạch , ca sĩ Thái Thanh đã trình bày bài thơ phổ nhạc này.
 
   Sáng hôm sau, tôi đến tư gia của nhạc sĩ Phạm Duy 215 E/2 đường Chi Lăng- Phú Nhuận ăn cơm và ký hợp đồng bài thơ KVCE tại đây. Trong bản hợp đồng tiền tác quyền là 30.000 đồng (thời điểm đó giá một lượng vàng nếu tôi nhớ không lầm là khoảng 10.000 đồng đến 12.000 đồng ), nhưng thực tế thì nhạc sĩ Phạm Duy trả tôi 50.000 đồng ( 30.000 đồng bằng Sec nhận ở Pháp Á ngân hàng- 20.000 đồng tiền mặt .
 
   Lúc bản KVCE được hát là cuộc chiến tranh Việt Nam trở nên dữ dội, nên đã gây những chấn động lớn lao vào tâm hồn của những quân nhân Sài Gòn cũng như mọi tầng lớp dân chúng.Như trong hồi ký của nhạc sĩ Phạm Duy phát hành ở hải ngoại đã dành chương hai mươi hai viết về KVCE và tác giả có đoạn : "…Tôi hát bài này trước tiên tại phòng trà RITZ của Jo Marcel với ban nhạc Dreamers, rồi hầu hết các ca sĩ từ Thái Thanh, Lệ Thu, Khánh Ly qua Thanh Lan, Nhật Trường đều thu thanh vào băng nhạc. Bài hát trở thành một hiện tượng lớn của thời đó. Ở phòng trà, khi ca sĩ hát bài đó lên, bao giờ cũng có sự náo động nơi khán thính giả. Nếu là thường dân thì phản ứng cũng vừa phải, nhưng vì hồi đó dân nhà binh ở bốn vùng chiến thuật về Sài Gòn là đi phòng trà và khi trong đám thính giả có một sĩ quan đi nghỉ phép hay một thương phế binh là có sự phản ứng ghê hồn nơi người nghe. Có thể nói bài này gây một không khí phản chiến, nhưng có một cái gì cao hơn chính trị. Nó nói đến định mạng của con người Việt Nam mà ai cũng phải chấp nhận…"

 
   Cuộc chiến tranh càng ngày càng trở nên khốc liệt, nhất là cuộc hành quân  Lam Sơn 719 qua bên kia Lào. Có nguồn tin tôi đã nằm lại ở vùng Hạ Lào ,không hiểu xuất phát từ đâu, và cái chết của Linh Phương tác giả KVCE  còn có bài viết của tác giả Trần Tường Trình đăng trên nhật báo Sóng Thần của ông Chu Văn Bình ( tức nhà văn Chu Tử ): và một số phân ưu chia buồn trên các báo khác. Rồi mặt trận Kampuchea bùng nổ ,tôi lại được khai tử thêm lần nữa tại chiến trường này.
 
   Lúc đó, anh Thiện Mộc Lan ký giả báo Đuốc Nhà Nam đã cố công tìm sự thật về cái chết của tôi . Sau nhiều ngày tìm hết chỗ này đến chỗ khác qua nhiều nguồn, ký giả Thiện Mộc Lan đã đến nhà nhạc sĩ Phạm Duy như  tác giả bài báo đã kể : " …Chúng tôi chợt nghĩ đến nhạc sĩ Phạm Duy, hy vọng rằng giữa nhạc sĩ và nhà thơ có nhiều liên hệ từ lúc KVCE ra đời, thế nào Phạm Duy cũng biết rõ về Linh Phương. Khi nghe chúng tôi báo tin Linh Phương đã chết, nhạc sĩ họ Phạm sửng sốt : - Linh Phương mới thăm tôi cách đây nửa tháng mà. Lẽ nào …như vậy được. Oi dzời ! Tôi nghĩ rằng anh ấy chưa chết đâu… ". Được nhạc sĩ Phạm Duy ghi cho địa chỉ , kí giả TML tìm đến tư gia nhà thơ Vũ Trọng Quang và gặp tôi tại đây . Báo ĐNN đã  đăng loạt bài 4 kỳ báo qua những tít : 1- " Nhà thơ có nhiều huyền thoại, tác giả "Kỷ Vật Cho Em " Linh Phương còn sống hay đã vĩnh viễn ra đi ? 2-Liên lạc khắp nơi ĐNN mới tìm ra tông tích tác giả Kỷ Vật Cho Em . 3-Linh Phương đã nói gì với ĐNN . 4-Linh Phương thích làm thơ nhưng không
mang danh thi sĩ ".


tượng lính
 

   Thực ra, không chỉ bài thơ Kỷ Vật Cho Em làm tốn nhiều giấy mực báo chí, mà còn có 2 bài thơ đăng cùng một số báo trên tờ tuần báo KHỞI HÀNH của Hội Văn nghệ sĩ quân đội Sài Gòn, đó là bài thơ " Bài cho chiến trường Đông Dương " nói về những cái chết của người Việt Nam trên đất Kampuchea, Hạ Lào…và bài " Từ giã bọn mày " nói về thân phận của những Lao công đào binh. Tôi chỉ còn nhớ 3 khổ thơ của bài này như sau :

 
    " Từ giã bọn mày mai tao lên núi
   Mặc áo lao công đập đá xây thành
   Làm bạn vắt mòng chung vui với muỗi
   Đắp lũy thông hào chờ cuộc giao tranh
 
   Từ giã bọn mày tao đi nhặt nốt
   Võ đạn đồng rơi rớt giữa quê hương
   Từ giã bọn mày tao đi nhặt nốt
   Dưới ruộng- dưới đồng- những máu- những xương
…

   Từ giã bọn mày xin đừng đưa tiễn
   Dù một lần tao làm gã tội nhân
   Từ giã bọn mày mai tao xuống biển
   Tay ngoằn nghoèo vẽ trọn chữ Việt Nam "
 
  Khi báo phát hành khoảng một giờ sau thì bị cảnh sát tịch thu tất cả những số báo còn lại. Đấy là trường hợp có một không hai vì đây là tờ báo của Hội văn nghệ sĩ quân đội.
 
   Sau năm 1975, đúng hơn là 1978 tôi từ Côn Đảo lang bạt kỳ hồ về Cà Mau , ba chìm bảy nổi , bị người ta " đánh " tơi tả, không còn chỗ dung thân dạt về Kiên Giang cho đến bây giờ. Có những lúc tôi chảy nước mắt khi tự hỏi : tại sao người ta không sống với nhau bằng tấm lòng để cư xủ với nhau tử tế hơn ?

   Có lẽ tôi lan man hơi nhiều, dù còn có biết bao chuyện quanh bài thơ KVCE mà tôi chưa thể kể hết, chỉ hy vọng một ngày nào đó tôi viết một cuốn hồi ký , hoạ may mới dàn trải được số phận của bài thơ KVCE .
 
   Tựa đề do SCL chọn.Đề từ của tác giả là : Tản mạn về bài thơ kỷ vật cho em.

   Nguyên văn bài thơ :

                                                KỶ VẬT CHO EM
 
    Em hỏi anh bao giờ trở lại
    Xin trả lời mai mốt anh về
    Không bằng chiến thắng trận Pleime
    Hay Đức Cơ- Đồng Xoài- Bình Giả
 
    Anh trở về hàng cây nghiêng ngã
    Anh trở về hòm gỗ cài hoa
    Anh trở về bằng chiếc băng ca
    Trên trực thăng sơn màu tang trắng
 
    Mai trở về chiều hoang trốn nắng
    Poncho buồn liệm kín hồn anh
    Mai trở về bờ tóc em xanh
    Vội vã chít khăn sô vĩnh biệt
 
    Mai anh về em sầu thê thiết
    Kỷ vật đây viên đạn màu đồng
    Cho em làm kỷ niệm sang sông
    Đời con gái một lần dang dở
 
    Mai anh về trên đôi nạng gỗ
    Bại tướng về làm gã cụt chân
    Em ngại ngùng dạo phố mùa xuân
    Bên người yêu tật nguyền chai đá
 
    Thì thôi hãy nhìn nhau xa lạ
    Em nhìn anh- ánh mắt chưa quen
    Anh nhìn em- anh cố sẽ quên
    Tình nghĩa cũ một lần trăn trối
 
                                                                       LINH PHƯƠNG
                                                                      ( 20/02/1970 )



                                                 L-Phuong_47932070494


                                         Vài nét về LINH PHƯƠNG




   Sinh ra và lớn lên ở Sài Gòn. Cha người Phong Điền (Thừa Thiên-Huế) . Mẹ người Cần Thơ. Nguyên thư ký tòa soạn tuần san TINH HOA NỮ SINH phát hành tại Sài Gòn 1967.
 
   ĐT : 0918.065949. E-mail : linhphuong_1949@yahoo.com.vn
 
   * Tác phẩm in riêng :

-  THƠ TÌNH LINH PHƯƠNG (Thơ - nxb. Ngựa Hồng-Sài Gòn 1967 ).
-  KỶ VẬT CHO EM ( Thơ- nxb. Động Đất-Sài Gòn 1971 ).
-  LỜI TỰ TÌNH PHƯƠNG ĐÔNG ( Thơ- nxb. Đồng Nai 1995 ).
-  LỜI RU CỦA GIÓ ( Thơ- nxb. Thanh Niên 2000 ).
-  KỶ VẬT CHO EM ( Thơ – Thư Ấn Quán tái bản tại Hoa Kỳ 2006 )
* Tác phẩm in chung :
-  THƠ LỤC BÁT ( Thơ- nxb Thanh Niên 2000 ) 14 tác giả.
-  NGUYÊN ĐÁN TÌNH YÊU ( Thơ- nxb. Đồng Nai 2004 ) 13 tác giả.
- THƠ MIỀN NAM TRONG THỜI CHIẾN ( Thơ- Thư Ấn Quán –Hoa Kỳ xuất bản 2006 ) 263 tác giả.
-  MỘT THỜI LỤC BÁT VIỆT NAM  ( Thơ -Thư Ấn Quán – Hoa Kỳ xuất
bản 2008 ) 227 tác giả.
 
   Tác giả bài thơ  Kỷ Vật Cho Em, nhạc sĩ Phạm Duy phổ thành ca khúc trước năm 75.



 Nguồn :

http://vannghesongcuulong.org/vietnamese/tulieu_tacpham.asp?TPID=2692&LOAIID=15&TGID=612

http://vannghesongcuulong.org/vietnamese/tulieu_tacgia.asp?TGID=612&LOAIID=15&LOAIREF=


Thứ Năm, 9 tháng 7, 2009

THƠ - NHẠC và TƯỢNG




NỔI LÒNG KẺ THA HƯƠNG ...


  Mai Thảo nói rằng văn nghệ sỹ VN có hai cuộc “lên đường” , một lần Di cư vào Nam và một lần Di tản ra nước ngòai .




                      
  Không có cuộc ra đi nào mà chẳng có nước mắt, chẳng có nổi buồn .

    Huy Đức viết  về cuộc ra đi ấy qua cảm xúc của Trần Dần :

   …”Thoạt đầu, có vẻ như Trần Dần trách móc, thậm chí ông đã buộc tội “những bạn đi Nam” là Thiếu quả tim bộ óc! Nhưng rồi quan sát kỹ hơn, ông buột hỏi: Họ vẫn ra đi/ - Nhưng sao bước rã rời?/Sao họ khóc?/ Họ có gì thất vọng? “

   Và Du Tử Lê ở hải ngọai đã nhớ Sài gòn thật là da diết : nhớ từ con đường từ những chốn thân quen …Xa Lộ, Hàng Xanh , Thị Nghè.. Trương Minh Giảng , Tự do …

   Nhớ nghĩa trang quê  hương bạn bè /nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường …

   Đây là pho tượng “Tiếc thương” đặt ở nghĩa trang quân đội cũ của Nguyễn Thanh Thu .

   Hồi đó , mỗi lần đi ngang đây tôi đều ngừng xe lại và ngắm nhìn pho tượng    Người lính ngồi gác cây súng ngang đùi , đôi mắt nhìn về phía xa xôi với một nét buồn khôn tả …

   Dáng ngồi và cái nhìn của người lính gây cho lòng ta một cái gì xao xuyến, bâng khuâng …
 
  Và cái hình tượng ấy đã tác động rất mạnh lên những người dân đang sống ở khu vực nầy . Người ta đồn rằng ban đêm người lính ấy đã ghé vô nhà xin nước uống …! Thậm chí người ta còn quả quyết rằng pho tượng đã khóc với hai dòng nước mắt chảy dài trên má  v,,v,,,

   Sau biến cố năm 1975 , pho tượng bị đập bỏ , nghĩa trang bị cày xới không còn một dấu tích nào nữa cả .

   Ở đây tôi không có ý nói về chính trị , tôi chỉ nói lên khía cạnh nhân bản và tính nghệ thuật của bức tượng mà thôi .

  Các bạn của Nguyễn Thanh Thu hỏi rằng Ông có ý định làm lại pho tượng lính ấy chăng ? và ông đã trả lời:

   ” -  Tôi về đây hai năm rồi với một hoài bão khác chứ không phải là dựng lại tượng Tiếc Thương. Người nghệ sĩ chỉ sáng tạo một lần. Lần thứ hai không thể làm như lần thứ nhất. Nhưng nó sống được trong lòng mọi người thì tự nó còn mãi. Tôi tự hào về tác phẩm này. Dựng lại là một điều chẳng hay ho gì. “Nó” sống trong lòng mọi người là đủ. “

                                                           *

   Sau đây tôi trích một phần bài viết cuộc gặp gỡ giữa Nguyễn Thanh Thu , Thái Phương của Văn Quang .

   ….Chúng tôi ngồi quanh chiếc bàn nhỏ được tạo hình bằng một gốc cây. Anh Thu bắt đầu tâm sự: “Tôi về Việt Nam hai năm rồi đấy, chứ không như dư luận cho rằng tôi mới về để… làm một cái gì đó”.

   Thái Phương hỏi thẳng thừng:

   –    Không phải là để dựng lại tượng Tiếc Thương sao?

   Nguyễn Thanh Thu cười hà hà, có vẻ khoái chí vì câu hỏi thẳng thắn này. Anh bật người ra phía sau, hất hàm hỏi lại:

   – Ai cho làm mà làm?

   Thái Phương gặng tiếp:

   – Nhưng anh có ý định đó không?

  -  Tôi về đây hai năm rồi với một hoài bão khác chứ không phải là dựng lại tượng Tiếc Thương. Người nghệ sĩ chỉ sáng tạo một lần. Lần thứ hai không thể làm như lần thứ nhất. Nhưng nó sống được trong lòng mọi người thì tự nó còn mãi. Tôi tự hào về tác phẩm này. Dựng lại là một điều chẳng hay ho gì. “Nó” sống trong lòng mọi người là đủ. 

   Chúng tôi hiểu ý anh, nhưng thật tình sống ở đây lâu, chúng tôi biết, có những điều mà những người như anh Thu hơi ngại, cần phải “giữ mình”. Chúng tôi cũng chẳng khác gì anh. Tôi thông cảm dễ dàng, tuy nhiên cũng cố moi xem anh Thu có gặp trở ngại gì trước những dư luận đó không. Anh lắc đầu:

               Vài nét chính về cuộc đời Nguyễn Thanh Thu

   Chúng tôi đến bên bức tượng  nhỏ Tiếc Thương, anh còn để bên những bức khác trên kệ. Đây là hình tượng lúc ban đầu của khi anh bắt tay vào sáng tác “Tiếc Thương” và được dựng tại Nghĩa Trang Quân Đội vào ngày 1-11- 1966. Hình dung lại khung cảnh đó, tôi không khỏi bùi ngùi.

   Trước đây anh là sĩ quan QĐVNCH, cấp bậc sau cùng là Thiếu Tá thuộc ngành quân nhu, phụ trách tổng quát về các công trình ở Sài Gòn và đặc trách về Nghĩa Trang Quân Đội.

                                                                
                                                                           Theo Văn Quang



 Tiec thuong copy




Chú Thích :

   Văn Quang là một tên tuổi khá nổi của Miền Nam trước 1975. Ông có nhiều độc giả và những tác phẩm của Văn Quang được nhắc đế  là tiểu thuyết Chân Trời Tím, Nguyệt Áo Đỏ,

   Sau 1975, ông ngưng bặt một thời gian dài. Mới đây ông xuất hiện trở lại với lá thư từ bàn viết "lưu vong" từ thị trấn đất đỏ Bình Phước, có tên là "Lẩm Cẩm Sài Gòn Thiên Hạ Sự", chỉ gửi ra hải ngoại. Các bài viết của ông được báo chí và độc giả hải ngoại đón nhận nồng nhiệt.

*

     Du tử Lê  khi  xa Sài Gòn vẫn không quên được “Pho tượng lính” ấy bởi tính nhân bản và nghệ thuật của nó nên bao điều ông nhớ trong đó có “pho tượng lính buồn se bụi đường…”

   …Nhớ nghĩa trang quê hương bạn bè
   Nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường …

     Xin được giới thiệu bài thơ Đêm Nhớ Trăng Sài Gòn của Du Tử Lê


Đêm nhớ trăng Sài Gòn

                                                                Du Tử Lê

   Đêm về theo vết xe lăn
   Tôi trăng viễn xứ hồn thanh niên vàng
   Tìm tôi đèn thắp hai hàng
   Lạc nhau cuối phố sương quàng cỏ cây

   Ngỡ hồn ta xứ mưa bay
   Tôi chiêng trống gọi mỗi ngày mỗi xa
   Đêm về theo bánh xe qua
   Nhớ em xa lộ nhớ nhà Hàng Xanh

   Nhớ em kim chỉ khứu tình
   Trưa ngoan lớp học chiều lành khóm tre
   Nhớ mưa buồn khắp Thị Nghè
   Nắng Trương Minh Giản trưa hè Tự Do

   Nhớ nghĩa trang quê hương bạn bè
   Nhớ pho tượng lính buồn se bụi đường
   Đêm về theo vết xe lăn
   Tôi trăng viễn xứ sầu em bến nào ?

    Và :

   Bản nhạc Đêm nhớ Trăng Sài Gòn Phạm Đình Chương phổ nhạc theo bài thơ cùng tên của Du Tử Lê


       

Thứ Tư, 8 tháng 7, 2009

ENTRY CHO NHỮNG BẠN GIÀ ...



  

                 LỜI NGƯỜI SƯU TẬP


  Một bài viết của Huy Đức trong Blog Osin về số phận của các văn nghệ sỹ trong một thời kỳ đen tối của nền văn học nước nhà .



    Giống như vụ cải cách ruộng đất , những điều oan khuất sau đó rồi cũng được giải tỏa , nhưng đã có biết bao số phận của con người rơi xuống tận đáy xã hội, ngập trong vũng bùn đen thì dù Đảng có cách chức Tổng bí thư Trường Chinh cũng không thể nào làm cho những số phận ấy thay đổi được cuộc đời của họ .

    Đặc biệt là vụ Nhân Văn giai phẩm phải rất lâu sau  – Thậm chí có nhiều người đã chết rồi mới được phục hồi .

   Huy Đức phân tích rất hay và rất cụ thể khi anh phân loại các văn nghệ sỹ thời ấy ra những loại sau đây

1.    Người biết và sử dụng được quy luật thì thăng quyền tiến chức, như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi;

2.    Người biết, nhưng chỉ né tránh thì tồn tại như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng;

3.    Hay xa lánh như Nguyên Hồng ;

4.    Người không biết, người phản kháng thì đành phải sa hầm sẩy hố…:  Hữu Loan, Trần Dần, Lê Đạt, Hữu Đang , Phùng Cung …

   Bấy nhiêu đó đủ thấy cuộc sống của các văn nghệ sỹ hồi đó và bản chất của chế độ XHCN.

         
                                                                                                   VTD


                                         TRẦN DẦN VÀ TỐ HỮU


"Tất nhiên, không ai tin việc tập thơ Trần Dần bị “niêm phong” chỉ vì vài cái lỗi về thủ tục. Nhưng thôi, đó cũng là một lối ra rất đỡ mất mặt. Dù sao, Thơ Trần Dần cũng đã bán rất chạy,988 ngay đến cậu con trai tôi, 15 tuổi, cũng tò mò.


Thơ ông đa nghĩa quá. Chỉ riêng một bài Nhất Định Thắng, tôi nghĩ, đã có thể vừa quy kết ông là một tên phản động cực kỳ nguy hiểm, vừa có thể ca ngợi ông như một người yêu nước nồng nàn. Không hiểu sao, cho tới nay, chưa thấy ai làm một bộ phim truyện dựa trên bài thơ ấy. Ta ở phố Sinh Từ... Một giai đoạn lịch sử buồn đau của đất nước hiện ra mồn một trong mỗi câu thơ của ông".


Một bài viết thật hay quanh "sự kiện Trần Dần" trên trang Osin blog. Trang "sự kiện- đối thoại" của Nhất kỳ này trân trọng giới thiệu bài viết này.

                                                                                                
TDN

tran dan 1
  
                                                TRẦN DẦN  - Minh họa : Văn Cao
                                                                                                
                                                                                                                                                 
Khi Trần Dần viết bài thơ ấy, đất nước đang bị phân đôi, ở miền Bắc chiến tranh kết thúc. Nhưng... Trần Dần viết: Tôi đi giữa trời mưa đất Bắc/Đất hôm nay tầm tã mưa phùn/Bỗng nhói ngang lưng/máu rỏ xuống bùn/Lưng tôi có tên nào chém trộm? Không hiểu, hình tượng “vết chém ngang lưng” ông viết ở đây là để nói về nỗi đau chia cắt tổ quốc hay chỉ đơn giản nói về cái không khí ngột ngạt ở miền Bắc, cái không khí mà đến 30 năm sau, Hữu Loan vẫn nhớ: “Thành viên nào (trong cộng đồng) cũng chứa toàn âm mưu đen tối để chủ hại người bên cạnh”.


Theo Hiệp định Geneve, người dân có một thời gian dài để chọn cho mình miền Nam hay miền Bắc. Nhưng lúc ấy, không có ai tự nguyện từ miền Nam chạy ra “Miền Bắc thiên đường của các con tôi”. Trong khi, hàng triệu người dân đã gồng gánh vào Nam để lại mồ mả ông bà trên đất Bắc. Thoạt đầu, có vẻ như Trần Dần trách móc, thậm chí ông đã buộc tội “những bạn đi Nam” là Thiếu quả tim bộ óc! Nhưng rồi quan sát kỹ hơn, ông buột hỏi: Họ vẫn ra đi/ - Nhưng sao bước rã rời?/Sao họ khóc?/ Họ có gì thất vọng?


Trong những ngày xây dựng Chủ Nghĩa Xã Hội ấy, tình hình Thế giới được “quán triệt” thành hai “phe” Xô- Mỹ. Nhưng cái “phe” mà ông quan tâm cũng “căng thẳng” vô cùng: Gặp em trong mưa/Em đi tìm việc/Mỗi ngày đi lại cúi đầu về/- Anh ạ!/ Họ vẫn bảo chờ... Ông nghĩ: Trăm cái bận hàng ngày nhay nhắt./Chúng ta vẫn làm ăn chiu chắt./Ta biết đâu bên Mỹ miếc tít mù/Chúng còn đương bày kế hại đời ta? Nhưng “cơm áo” không phải là những gì ngột ngạt nhất mà những người như ông đã từng nếm trải.


Theo tác giả của Màu Tím Hoa Sim, nhà thơ Hữu Loan: Trên thực tế, khi ấy, rất hiếm những bí thư, chủ nhiệm, thủ kho, cửa hàng trưởng tốt, phải nói hầu hết là ăn cắp, thi nhau để ăn cắp, nhưng văn học không được nói thực mà phải dựng lên toàn là những người lý tưởng. Các văn nghệ sỹ lúc ấy phải học tập những tài liệu hiện thực xã hội chủ nghĩa, từ Liên Xô đưa về, rồi tự Diên An (Trung Quốc) đưa sang. Nghĩa là văn nghệ chỉ được nói đến cái xã hội thiên đường vô cùng đẹp chưa có, chưa biết bao giờ mới có, chứ không được nói đến những cảnh trộm cướp áp bức bóc lột đang diễn ra trước mắt. Theo ông Hữu Loan: Khi một nhà báo hỏi: “Như vậy là Cách mạng đã cấm tự do ngôn luận?” Ông Trường Chinh sửng sốt: “Anh nói sao? Các anh được tha hồ tự do chửi đế quốc đó thôi.” Tố Hữu là một trong những nhà lãnh đạo hăng hái đưa “hiện thực XHCN” vào văn nghệ. Trong khi Trần Dần, Lê Đạt, Hoàng Cầm… phản đối đường lối này. Những người phản đối sau đó, lần lượt dính vào một vụ án gọi là “Nhân Văn Giai Phẩm”.
 

Phong trào Giai phẩm và Nhân Văn bắt đầu khi hai nhà thơ Trần Dần, Lê Đạt phê phán tập thơ Việt Bắc của Tố Hữu là “dòng thơ lục bát không có gì mới, nội dung vân vê kỷ niệm không lấy gì làm sâu sắc”. Trần Dần là người phê nặng lời nhất. Tuy nhiều người tán thành với nhận xét này nhưng tập thơ vẫn giành được giải nhất đầu năm 1956. Về sau, nhóm Nhân Văn còn viết nhiều bài được coi như là những “Thất Trảm Sớ”, đặc biệt, bài của Nguyễn Hữu Đang nói về thiết lập nhà nước Pháp quyền. Ngày nay, nếu đọc lại những bài viết của nhóm Nhân Văn, phải công nhận là nước ta đã từng có những nhà trí thức khả kính. Đất nước ra nông nỗi hiện nay là bởi lịch sử đã không chọn họ. Trần Hữu Đang bị tù 17 năm (sau 7 năm thì được tha); Phùng Cung, tác giả truyện ngắn “Con ngựa già của chúa Trịnh”: 7 năm tù giam; Vũ Duy Lân (Bộ Nông lâm, bị nghi là cho Nguyễn Hữu Đang một áo len khi đang đi tù): bị giam 7 năm mới tha; Giám đốc Nhà xuất bản Minh Đức: 17 năm... Khi Hoàng Cầm cho in Nhất Định Thắng, Trần Dần bị mất chức và sau đó bị bắt giam. Nếu Trần Dần không dùng lưỡi lam rạch cổ, có lẽ thời gian “ở trong lao” của ông không chỉ là 3 tháng. Trong tình cảnh ấy, mấy câu thơ: Những ngày ấy bao nhiêu thương xót/Tôi bước đi/không thấy phố/không thấy nhà/Chỉ thấy mưa sa/ trên màu cờ đỏ… không hẳn là không mang ít nhiều ẩn dụ chính trị.


Cho dù phải sau khi Tố Hữu chết, các ông Hữu Loan, Trần Dần, Lê Đạt… mới được “chiêu tuyết”, vụ “Nhân Văn” không đơn giản chỉ là những vấn đề giữa các cá nhân với nhau. Một nhà nghiên cứu viết, ở thời điểm ấy, thay đổi là một quy luật. Người biết và sử dụng được quy luật thì thăng quyền tiến chức, như Tố Hữu, Nguyễn Đình Thi; người biết, nhưng chỉ né tránh thì tồn tại như Nguyễn Tuân, Tô Hoài, Nguyễn Huy Tưởng; hay xa lánh như Nguyên Hồng. Người không biết, thì đành phải sa hầm sẩy hố… Kể ra thì, các bác ấy sống quá tử tế, làm thơ quá thơ, tính đa nghĩa trong thơ của các bác ấy thật dễ để mà suy diễn. Nếu, 50 năm trước, các bác ấy cứ theo Tố Hữu, viết huỵch toẹt: Má thét lớn tụi bay đồ chó/Cướp nước tao, cắt cổ dân tao…; hay thật xạo: Yêu biết mấy nghe con tập nói/ Tiếng đầu lòng con gọi Stalin… rồi trơ trẽn khi nghe tin Stalin chết: Thương cha, thương mẹ, thương chồng/Thương mình thương một, thương Ông thương mười, thì cuộc đời các bác ấy chắc chắn đã không phải thế.


Viết như thế không chỉ giúp Tố Hữu leo dần tới BCT, đã từng có lúc ông nhà thơ khẩu hiệu này lãnh đạo sự nghiệp phát triển kinh tế cho đất nước. Chúng ta không chỉ là nạn nhân của ông ở góc độ “giá lương tiền”. Suốt gần 30 năm, sách vở ngập tràn thơ Tổ Hữu. Bài thi nào cũng Tố Hữu. Giải bình thơ hay nào cũng Tố Hữu. Biết bao thế hệ đã tưởng đấy là thơ. Dân trí đã từng bị đặt trong cái “thênh thang 8 thước” đó. Nay thì Tố Hữu đã chết. Mới đây, gia đình ông đã bán nốt căn biệt thự ở phố Hồ Xuân Hương với giá tính

bằng đô la cũng hơn 7 triệu.



 Trần_Dần

Tôi bước đi không thấy phố không thấy nhà
Chỉ thấy mưa sa  trên màu cờ đỏ…

Trong khi những người như Tố Hữu được ban những bổng lộc như vậy, những người như Trần Dần, Hữu Loan lại bị đọa đày. Bà Phạm Thị Nhu, vợ ông Hữu Loan, kể: “Chúng tôi nuôi 10 đứa con thật vô cùng vất vả. Ông nhà tôi đi thồ đá, tôi làm 2 sào ruộng, lại xay bột làm bánh bán ở chợ. Hôm nào bán ế là gánh về một gánh nặng, cả nhà ăn trừ bữa. Tôi cứ xào một xoong to toàn các thức rau, các con đi học về là nhào vào múc ăn thay cơm. Ba đứa trai lớn thì hàng ngày phải dậy từ 3 giờ sáng, kéo 3 chuyến xe cải tiến chở đá từ trên núi xuống hồ cách 2 cây số, bán cho các thuyền rồi mới ăn vội bát cơm độn để chạy bộ 7 cây số đi học." Các con của Hữu Loan gần như không có ai vào được đại học vì lý lịch của một kẻ “Nhân Văn”. Một người con thi đủ điểm đi học nước ngoài cũng không được đi học. Ông đã bị biết bao người thân trách cứ. Nhưng, khi quyết định rời bỏ Hà Nội về quê, Hữu Loan đã nói với vợ: “Thôi thì bà với các con chịu khổ để cho tôi được sống lương thiện. Tôi mà chịu khó hót thì nhà lầu xe hơi sung sướng đấy, nhưng tôi không làm được”. Ông giải thích: “Làm nhà văn khó lắm. Viết vừa lòng nhà nước thì dân chửi, viết vừa lòng dân thì đi tù như chơi. Thôi tôi về đi cày”.

Đôi khi nghĩ, những người như Hữu Loan, Trần Dần dại thật. Nhưng, Những ngày ấy bao nhiêu thương xót, làm sao có thể bắt những người như các ông có thể quay lưng lại với nhân dân!


                                                                                                                                               OSIN blog





Thứ Ba, 7 tháng 7, 2009

Trích HỒI KÝ ...

                                                 

 

   TRƯỜNG XƯA …

   Thân tặng : HỒNG ĐÀO , NGỌC YẾN, CAO NGUYÊN, HÒANG guitar ... và các bạn đã ... từng đi dạy học !

 

 

 

 

Chiều thứ năm , tôi xem Giáo án của cấp I thì thấy thiếu Giáo án của cô Xuân dạy lớp 5

Hỏi ra mới biết Xuân đi thăm chồng đột xuất . Chồng của Xuân là một Trung tá ngụy đang bị đi học tập cải tạo . Cô có hai con và đang tá túc trong căn phòng xép cạnh cầu thang của trường .

   Đầu năm học, chị Hiệu trưởng – là một cán bộ ở A vào – có ý không muốn xếp lớp cho các cô có chồng là sĩ quan ngụy đang đi học tập cải tạo hay đã vượt biên trong biến cố 30 tháng 4 . Song do tình trạng thiếu GV nên Sở GD buộc các trường phải nhận những người nầy đứng lớp .

   Hỏi cô Hạnh là bạn thân của Xuân sao Xuân không xin phép nghỉ thì Hạnh bảo rằng : tối qua có tin người quen nhắn nói rằng ở trại cải tạo có cho thân nhân thăm nuôi 2 ngày và xuân dẫn con đi ngay không kịp xin phép .

   Tôi thở dài và nghĩ rằng thế nào rồi Xuân cũng bị bà HT một vố nặng vì tội nghỉ không xin phép , mà nghỉ vì lý do đi thăm chồng đang học tập cải tạo .

   Quả nhiên Xuân bị chuyển xuống làm Giáo viên Dự khuyết . Bà Rẻng (GV ở A vào) lên dạy lớp 5

   Theo truyền thống của trường thì những lớp có số thứ tự là 1 là những lớp điểm của khối.

   Tôi là Hiệu phó phụ trách chuyên môn của cả hai cấp thật không yên tâm chút nào khi bà HT quyết định giao lớp 51 cho cô Rẻng bởi tôi có đọc hồ sơ của cô nầy : Bằng cấp của cô là 7 + 1 , chuyên môn là thể dục ! Vậy bà nầy có biết gì về phổ thông mà lên lớp dạy ?

  Bà Nga Hiệu trưởng nói rằng “ chỉ cần có quan điểm lập trường vững thì mọi thứ sẽ ổn”

  Nói y như lời của Mao chủ tịch vậy ! Có một cái gì đó không ổn trong lòng tôi nhưng tôi không sao hiểu được .

   Về số phận của Xuân chăng ? – Không phải ! vì tuy cô bị “đày” xuống làm Giáo viên Dự khuyết thế mà nhàn . Vẫn lãnh đủ lương .

   Về chất lượng của lớp 51  chăng ? Tôi cũng không biết ! Có lẽ cả 2 và còn nhiều thứ khác nữa .

   Tôi cũng bị mất nhiều thứ , nhưng thôi, miễn hết giặc giả là được rồi

  Nhớ hồi làm hồ sơ GV để chuẩn bị năm học 75 – 76 , tôi bị đánh xuống C.2 vì bằng cấp là CN Luật . Hồi ấy cử nhân Triết và Luật không được coi là bằng Đại học mà chỉ tính là bằng Tú tài ! Mấy ông CS không ưa mấy tay triết gia và luật sư ! Vì thế mà tôi bị đưa xuống dạy C.2   

    Chiều chiều khi tan học, tôi còn ở lại trông coi các lớp phổ cập, tôi thấy mẹ con Xuân tha thẩn trong sân trường . Lòng tôi xao xuyến bâng khuâng khi nghĩ đến những đứa trẻ  không có cha sống lây lất với gạo Tổ pha bo bo và người chinh phụ dõi mắt trông chồng từ nơi xa tít , không có án , không biết ngày nào được về . Ở đây mẹ con nàng sống cô chích giữa những người đồng lọai của mình .

 

Baby in the box

 

   Các Frère Dòng La san được cho ở lại trên dãy lầu phía sau

trường, thỉnh thoảng giúp mẹ con nàng một ít gạo, rau củ … Song

bản thân họ cũng ăn gạo sổ nên dù thương xót , nhưng việc giúp đỡ

cho mẹ con nàng cũng rất hạn chế.

   Thằng Tâm , con Tuyết là con Xuân thỉnh thoảng cũng được tôi

cho ít kẹo. Nhưng kẹo thời ấy chất lượng kém lắm , nên cho là để

cho chúng mừng mà thôi .

    Ở đây tôi không tiện ra mặt chăm sóc cho mẹ con Xuân vì nàng khá đẹp , tôi không muốn anh chị em trong trường hiểu lầm rằng tôi có biệt nhãn với nàng . Vã chăng lúc ấy nhà tôi vừa mới sinh cháu bé đầu lòng , nhà tôi cũng rất khó khăn , thường phải xin “viện trợ” gạo, xăng từ dưới quê nhà .

   Trong trường có đến 6 cô giáo có chồng đi học cải tạo hoặc đã vượt biên ra nước ngòai sau biến cố 30/4, nhưng không ai có hoàn cảnh như Xuân : Không có nhà ở, không bà con thân thích, sống đeo bám  ngành Giáo dục với số lương chết đói 43đ/tháng .

 Anh Nghiêm chồng của Xuân nguyên là một trung tá thuộc sư đoàn 22 Bộ Binh , đi học cải tạo không được gia đình tiếp tế .

   Có lần Xuân đưa cho tôi cái radio nhờ tôi bán dùm . Tôi biết đó là những tài sản hiếm và có giá trị kém nhưng nàng cũng phải bán đi để thêm phần rau cháo cho hai đứa trẻ .

  Năm sau tôi đổi sang trường khác, không còn có tin tức gì của Xuân nữa, không biết rồi mẹ con của cô sống ra sao ?

                                               *

Khi tôi đến nhận nhiệm vụ ở một ngôi trường mới cũng ở Q.3, tôi được nhà nước cho ở một căn nhà nguyên là kho sách của trường . Đây là một ngôi trường C1.2 lớn nhất Q.3 với 56 lớp .

  Năm học trước trường đứng thứ 13 (hạng chót) sau kỳ thi TN PTCS.

  Anh Trưởng phòng GD là dân tập kết về và là người đồng hương với tôi . Khi trao quyết định cho tôi , anh nói :

  - Cậu về trường nầy cố gắng vực nó lên  chứ mấy năm rồi nó tòan hạng bét !
                                                                    
*

Nhân vật đầu tiên tôi tiếp xúc là anh Sang , nguyên Tổng Giám Thị trường Bồ Đề . Trước giải phóng anh là bạn thân của tôi .

   Anh là một Giám thị bẩm sinh rất giỏi trong việc duy trì kỷ luật, nền nếp trong trường .Thời đó, các ông các bà ngoài Bắc mới vào chỉ trích nền giáo dục ở miền Nam rất dữ , nào là phản động , nô dịch …Hệ thống Giám thị trường học bị giải tán . Các bác nói là phải để học sinh tự giác trong mọi tình huống kỷ luật , và lệnh cấm đánh học trò thi hành rất nghiêm ngặt  . Nhiều thầy cô bị kỷ luật vì đã “dám” đánh học trò !

  Anh Sang TGT khét tiếng đánh học trò ngày xưa đã đến với tôi ngay sau khi tôi vừa nhận bàn giao xong .

  Anh em lâu ngày mới gặp nhau tay bắt mặt mừng . Sau một hồi hàn huyên , anh hỏi thẳng :

- Anh có cho phép tôi đánh học trò không ? Câu hỏi nầy đối với tôi thật khó trả lời một cách dứt khóat , buộc tôi phải trả lời lấp lửng:

- Theo nguyên tắc thì tôi không thể đồng ý cho anh đánh học sinh , nhưng anh có thể làm theo ý anh và anh phải chịu trách nhiệm về việc ấy … Tóm lại anh đánh sao mà phụ huynh đừng kiện cáo là được .

Mắt anh sáng lên, anh nói chắc như đinh đóng cột :

- Anh yên chí , sẽ không có PH nào kiện cáo gì đâu !

   Quả nhiên trong mấy năm trời làm việc với tôi , PH rất mến và tin cậy anh .

   Còn học trò ?

   Chúng gọi anh là Bố , chúng chơi với anh như bạn. như là cha con...

   Nhiều năm sau, một hôm Sang sửa nhà , tôi ghé lại thăm thì thấy một đám học trò đang xúm xít cùng làm với thầy . Nhìn kỷ thì tôi thấy tòan là những đứa mà tôi đã nhẵn mặt khi xưa . Chúng là những học sinh cá biệt quậy phá thiếu điều gần banh cái trường !  

   Anh Sang có một đức tính rất đặc biệt là không bao giờ anh “đầu hàng” một ca khó và gởi HS đó xuống cho tôi  . Tự anh giải quyết hết cả mọi tình huống phức tạp, kể cả với phụ huynh .

   Một lần tôi ghé vào phòng Sao đỏ lúc anh đang xử kỷ luật 3 tên quậy có tiếng ở lớp 8 .

   Anh nói :

- Tội trạng của tụi bây rành rành ra rồi , bây giời thầy sẽ đánh mỗi đứa 3 roi và xếp hồ sơ . Nếu đứa nào sợ đòn, thầy chỉ đánh 1 roi và mời phụ huynh đến làm việc …

   Và cả 3 đứa đều chịu phạt 3 roi .

   Anh đánh rất nhịp nhàng và luôn nhắc nhở :

- Roi nào mà nhúc nhích thì không tính .

   Anh đánh chậm từng roi, từng roi , tiếng vang nghe rất lớn .

   Buổi chiều khi gặp anh tôi nói :

- Ông đánh mạnh nghe ghê quá !

- Đó là dơ cao đánh khẻ ! Anh biết không ? Tôi đánh thằng bị đánh không đau lắm, không có dấu roi , nhưng thằng đứng ở ngòai thì sợ xanh mặt .

- ?

- Tôi đánh trượt trên cái quần của nó nên nghe rất kêu mà ít đau .

Thì ra muốn đánh cho người khác sợ và cho người bị đánh ít đau cũng phải có “nghệ thuật” !

    Có lần, lúc trà dư tửu hậu tôi hỏi Sang về bí quyết đánh học trò mà chúng nó phục và không ghét.

   Anh suy nghĩ khá lâu rồi nói :

- Có nhiều thứ lắm , không thể nói hết được, nhưng có một điều căn bản nhất là khi mình đánh chúng  mình không được giận mà phải với tấm lòng thương chúng  …

  Tôi nghĩ đó là Giáo dục .

  Và chuyện của anh Sang là một bản trường ca rất dài, rất thú vị .

Có dịp tôi sẽ trở lại .

    Lúc ấy tôi tự tuyển thêm 1 Giám thị nữa với danh nghĩa là GV dự khuyết cấp 1 cùng làm việc với anh Sang và để cho hai anh một phòng rộng rải với danh nghĩa là phòng Sao Đỏ .

  Tôi đã cầm đèn chạy trước ô tô nên thiên hạ đồn đải râm ran là trường NVH đã tổ chức cho Giám thị đánh học sinh . Vì thế tôi bị thanh tra ! Chủ yếu là họ muốn moi móc việc tôi tổ chức hệ thống Giám thị trong trường học .

  Tôi phải chối phăng rằng đó chỉ là hệ thống Sao đỏ của trường v..v…

  Năm đó hai cấp của trường tôi thi đậu 100% đứng hạng nhất trong quận và đồng hạng với hai trường khác của TP .

   Trong báo cáo tổng kết tôi chỉ dám nêu vai trò tích cực của Đội sao đỏ trong việc giáo dục và duy trì hệ thống kỷ luật của trường đã góp phần lớn cho chất lượng giáo dục …

  Tôi rất cám ơn anh Sang và coi việc thử nghiệm hệ thống giám thị trong trường đã có lời giải đáp .

   Song những người ở A vào rất dị ứng với việc tổ chức GT trong trường nên tôi vẫn phải làm “lén” .


   Đến đây tôi chợt nhớ đến một kỷ niệm cũ thời trước giải phóng .

   Năm 1974 tôi dạy mấy giờ văn lớp đệ tam trường La San Đức . Đây là trường của các ông Frère dòng La San . Trường tòan con trai chúng phá phách như quỷ .

    Một hôm trong giờ tôi đang giảng bài , tôi thấy ở dãy bàn cuối bọn trẻ nhốn nháo , mất trật tự . Tôi liền đi xuống và bắt gặp một tên đang cầm trong tay tạp chí Play Boy !

   Tôi túm cu cậu lên và bắt đứng trên bục hai tay chống lên bảng .

Tôi tuyên bố sẽ đánh 2 roi và gởi xuống  phòng Giám thị . Thằng bé năn nỉ tôi xin chịu 5 roi và xin tôi  xóa án cho nó . Đó là thông lệ : chịu 5 roi thì khỏi bị lôi thôi với Phòng Giám thị .

   Tôi đồng ý và cầm cây roi mây quất vào mông thằng bé .

   Chẳng may thằng nhóc nầy dám chơi nhưng không dám chịu nên trong chớp mắt với phản ứng tự vệ nó đưa tay xuống đỡ .

   Bốp !

  Cây roi của tôi quất trúng chiếc đồng hồ của thằng bé bể nát, miễng kiếng văng tứ tung !

   Bọn trẻ xanh mặt ngồi im re .

  Tôi cũng giật mình và đuổi nó về chỗ .

   Hình phạt như thế là tan . Song tôi cũng tịch thu cái tạp chí khêu dâm ấy và giao cho Frère giám học ( Frère Stephan ) .

   Câu chuyện tưởng đến đó là chấm dứt, ngờ đâu tuần sau tôi vào trường được Frère Tổng Giám thị kể lại rằng : mẹ thằng bé là vợ của một ông đại tá Biệt Động quân vào trường làm dữ với Frère Stephan : Bà ta đòi đưa tôi ra tòa vì tội đã đánh con bà .

   Nhưng Frère Stephan là một vị Giám học rất cứng rắn . Ông trả lời với bà ta rằng :

- Bà cứ đi thưa . Tôi sẽ đi hầu với tất cả vật chứng , và xin mời bà đưa cháu sang trường nào người ta chấp nhận cho HS xem tạp chí Play Boy  trong lớp .

  Thế là bà ta xìu ngay .

    Đó là một trong những kỷ niệm cũ trong cuộc đời đi dạy học của tôi , và cũng là một trong những kinh nghiệm tôi rút ra sau nầy khi gặp những tình huống tương tự


tổng kết năm học 90- 91.  

                                                      *

Trường NVH nằm trong địa bàn P.10 và P.11 , Q.3 là khu lao động ổ chuột , đa số PH rất nghèo nên có nhiều chuyện cười ra nước mắt .

  Ở lớp 53  có một học sinh nhất định không chịu nộp hình để dán học bạ và thẻ dự thi . Em nói rằng mẹ không cho tiền chụp hình .

   Cô giáo CN mời PH mãi nhưng gia đình không tới , buộc cô phải tới nhà .

   Và đây là mẫu chuyện cô GVCN lớp  53  trao đổi với tôi :

- PH nói rằng sẽ không cho con đi học nữa ! Thi đậu Tiểu học rồi làm được việc gì ? trong khi con bé đi bán trà đá ở ga Hòa Hưng mỗi ngày cũng kiếm được cho bà mấy chục bạc !

- Rồi sao nữa ?

- Tôi phải bỏ tiền túi ra dẫn con bé đi chụp hình …

Ơn trời ! Cuối năm con bé thi đậu tiểu học ! và tôi cũng quên không theo dõi xem nó có lên học C.2 hay là nghỉ học luôn để đi bán trà đá …

Tóm lại trường ở trong một địa bàn như vậy mà muốn có chất lượng giáo dục tốt thì quả là rất gian nan !

                                                    *

Về phía thầy cô cũng không kém phần khó khăn về đời sống .

Tôi còn nhớ cô giáo Màng dạy lớp 4 của trường có tới 6 đứa con trong đó có 2 cặp sinh đôi . Cặp sanh đôi sau là hai đứa con trai chỉ mới 4 , 5 tuổi , Chồng cô là một trung tá Biệt động quân đang đi học cải tạo ngoài Bắc .

Không cần nói chắc ai cũng hiểu được là gia đình của cô khó khăn đến mức nào .

Nhà cô ở trong một con hẽm cạnh trường . Một hôm sau khi tan học tôi về đến nhà thì thấy 2 thằng nhóc nhỏ con của cô ngồi trước thềm nhà tôi. Trông chúng lờ đờ , mồm sễu dãi .

Tôi hỏi :

- Sao giờ nầy tụi con còn ngồi đây ? Ăn cơm chưa ?

 

khon cung

    Thằng anh tên Bi đáp :

- Dạ hồi sáng tới giờ tụi con chưa ăn cơm .

   Tôi trố mắt lên nhìn và chợt hiểu : Chúng đói !

   Tôi vào  kêu nhà tôi lấy tô bới cho 2 đứa mỗi đứa một tô cơm chan nước cá đưa cho chúng ăn . Một lát sau chúng tỉnh lại …

   Tôi hiểu, chị Màng lên lớp với những gánh nặng trên vai như thế thì khó mà đòi hỏi chất lượng tốt các buổi dạy của chị .

                                                                *

   Mấy năm sau, anh Tuyên chồng của chị Màng được thả về và sau đó được đi HO .

  Anh chị và các cháu vẫn thường xuyên  thư từ liên lạc với gia đình tôi .

  Tết vừa qua tụi nhỏ gởi về cho nhà tôi 500 đô la gọi là quà mọn cho thầy cô ăn Tết .

   Quà của bát cơm Phiếu mẫu đó chăng ?

                                                                      Hòa Hưng 2005

   

 


  

  

 

Thứ Tư, 1 tháng 7, 2009

ENTRY CHO U50 TRỞ LÊN




     

    Lời người sưu tập : Tôi post bài nầy lên đây có nhã ý mời các bạn cùng thời đọc , ít ra là các bạn từ U50 trở lên , bởi vì nền văn học nước ta có những mốc mà ở một lứa tuổi nào đó mới cảm nhận được.

  
    

     MAI THẢO  - " Cũng đủ lãng quên đời"


 Mai Thảo nói về Dương Nghiễm Mậu nhưng ông mô tả cả một thời từ lúc những nhà văn, nhà thơ theo một luồng sóng di cư vào Nam sau Hiệp định Genève . Sau đó là một thời kỳ cực thịnh của nền văn học miền Nam với nhiều cây đại thụ tiếng tăm lừng lẫy cả một thời và cũng chịu nhiều số phận chua cay sau khi thống nhất đất nước  như bài viết của Mai Thảo dưới đây .

   Thời trước tôi rất mê văn của Nhã Ca (Đêm nghe tiếng đại bác). Nhật Tiến (Thềm hoang) , Nguyễn thị Hoàng ( Vòng tay học trò), Duyên Anh (Thằng Vũ), Thái Lãng (Nhật ký người chứng ) , Lê Tất Điều (Đêm dài một đời) , Nguyễn Thụy Long (Chim trên ngọn khô)…THƠ của Đinh Hùng, Nguyên Sa, Phạm Thiên Thư, nguyễn Tất Nhiên, Xuân Diệu, Thế Lữ, Vũ Hoàng Chương … Và nhiều, nhiều hơn thế nữa . Nên tuy đã lâu , các sách ấy quyển còn quyển mất nhưng dư vị của nó vẫn còn thấm đẫm trong tôi , và đó là một vốn sống rất quý .

  Mai thảo viết về những con người với đôi mắt đầy thương xót cho những kiếp người , ông nói về DNM với tấm lòng đầy thương yêu, quý trọng khiến chúng ta đọc không khỏi ngậm ngùi .

   Ông cũng có bài viết về Bình nguyên Lộc, Vũ Hòang Chương và nhiều nhà thơ , nhà văn khác rất sâu sắc , khi nào có dịp tôi sẽ giới thiệu với các bạn .

*

              CON ĐƯỜNG DƯƠNG NGHIỄM MẬU

                                                    Đăng ngày: 14:42 09-05-2008

Khoảng cuối thập niên 50 và bắc cầu sang đầu thập niên 60 – cây cầu đến nay còn soi bóng tuyệt đẹp trên dòng sông đất nước – những tấm lòng đồng chí với những phá vỡ và những làm mới của văn học và cho văn học, đã được liên tiếp chứng kiến gần như trong cùng một thời điểm, hai cuộc lên đường đi về những chân trời phía trước của một thế hệ những người cầm bút ở miền Nam.

Lên đường thứ nhất khởi sự từ Lên Đường Lớn: từ hiệp định chia đôi đất nước, từ Bến Hải và vĩ tuyến 17, theo những bước chân trùng trùng của di cư một triệu. Đội ngũ tiền phong của nó là Thanh Tâm Tuyền, Trần Thanh Hiệp, Tô Thùy Yên, Quách Thoại, Nguyễn Sĩ Tế, Doãn Quốc Sỹ, Cung Trầm Tưởng, Hoàng Anh Tuấn và Nguyên Sa, những người trước vào từ miền Bắc, bài thơ thứ nhất viết dưới những mái lều vải tạm trú của sinh viên, hai người sau "viễn phương" hơn, lên khỏi những hầm rượu tả mạn sông Seine, mới từ Pháp về.

Những vì sao đầu này của một vòm trời văn chương vừa dựng thoạt đầu là những lấp lánh lẻ tẻ. Trên tờ Dân Chủ của Vũ Ngọc Các, tờ Đời Mới của Nguyễn Đức Quỳnh, Trần Văn Ân, từ Lửa Việt, Người Việt của sinh viên Hà Nội di cư. Rồi sau cùng đến với nhau thành một họp mặt chung trên tờ Sáng Tạo.

Lên đường thứ hai, đã thấp thoáng trong dấu chân lên đường thứ nhất, nên có thể coi như một đồng hành, làm một gờm thành đầy khí thế của những người viết trẻ, tất cả đều ở tuổi hai mươi, và diễn đàn chính của họ là tờ Văn Nghệ, chủ nhiệm Lý Hoàng Phong, anh ruột nhà thơ Quách Thoại. Họ là Viên Linh, Trần Dạ Từ, Nhã Ca, Du Tử Lê, Đỗ Quý Toàn, Trần Đức Uyển, là Nguyễn Thụy Long, Nguyễn Nghiệp Nhượng. Và một người viết mới, tuy cùng một lên đường với bằng hữu nhưng độc lập, tách biệt, như đi một mình trên con đường riêng. Đó là Dương Nghiễm Mậu.

Những người của hai lên đường làm mới văn học nói trên, đến nay tuy đã mấy chục năm, nhưng với phần lớn tôi đều giữ được những kỷ niệm về lần đầu gặp mặt. Kỷ niệm với mỗi người mỗi khác. Thanh Tâm Tuyền, căn gác xép ám khói ở toà soạn Dân Chủ, hắn hỏi xin một điếu thuốc và tôi tưởng hắn là thợ sắp chữ. Nguyên Sa cái mũ trắng thầy giáo, lần đầu tới Sáng Tạo, gọi tôi vào phòng trong dậy một điệu nhảy swing. Cái áo thun cũ, cái quần sà lỏn của Doãn Quốc Sĩ, bữa ăn trưa đãi tôi ở Đại Học Xá. Cung Trầm Tưởng, cái cà-vạt đỏ chói, tóc đỏm dáng từng sợi. Viên Linh mặt mày cau có giận dữ vì đến đưa thơ tôi còn ngủ vùi, cửa toà báo treo tấm biển đi vắng. Trần Thanh Hiệp không nhìn lên, vùi đầu vào cuốn tự điển to gấp hai người Hiệp. Quách Thoại, cái anh chàng khả ố ngất ngưởng ở tiệm ăn Thanh Thế, lần gặp đầu đã tự nhận là vua thơ một thời. Nhưng kỷ niệm về lần thấy đầu, biết đầu với Dương Nghiễm Mậu là vô tình và lý thú nhất, sau này tôi kể chuyện lại, anh em còn cười lớn với nhau.

dem-mua

Nhớ đó là một buổi trưa rảnh rỗi, tôi ghé vào thăm một diễn đàn bạn. Người bạn đang cắm cúi làm việc. Tôi kéo ghế ngồi hút thuốc lá, thấy ở cạnh mình một cái sọt rác đựng đầy những bản thảo gởi đăng không đăng và liệng bỏ đi. Buồn tay tôi nhặt những tờ bản thảo bị xé bỏ ấy lên coi. Cuối cùng và ở tận đáy cái sọt rác ấy là một bản thảo truyện ngắn. Tôi đọc mấy dòng đầu, giật mình vì lối vào truyện mạnh dạn, mới lạ, khác biệt hẳn với lối vào truyện vòng vo ngập ngừng thường thấy ở những người viết mới. Đọc tiếp mấy trang nữa; tôi hỏi người bạn: "Bỏ đi tất cả đây à?" Người bạn không ngửng đầu lên: "Ừ, đã đọc rồi bỏ không đăng" "Moi lấy đi được không?" "Để làm gì vậy?" người bạn ngạc nhiên hỏi. "Mặc moi" tôi nói, và cất cẩn thận cái truyện ngắn bị vất bỏ ở một diễn đàn bạn vào túi áo, trở về đăng ngay nó và nguyên văn không sửa một cái dấu phẩy trên tờ Sáng Tạo số đang làm. Người bạn tôi, chỉ biết thấy giá trị những tác giả đã thành danh, không thấy được những hạt ngọc lóng lánh lăn ra từ những cõi viết còn vô danh chưa tên tuổi đã liệng đi cái hạt ngọc văn xuôi ấy là truyện ngắn Rượu Chưa Đủ, truyện đầu tay của một người trẻ tuổi mới viết văn bấy giờ là Dương Nghiễm Mậu. Hạt ngọc bị vất bỏ ấy và tôi đã tình cờ lượm được, đúng là một hạt ngọc. Bao năm rồi không đọc lại tôi chẳng thể nhớ hết từng chi tiết của truyện chỉ nhớ cái chàng nào đó với bút hiệu Dương Nghiễm Mậu đã có ở Rượu Chưa Đủ một đoạn văn kết thúc tuyệt hay. Đoạn văn tả người anh đến đón em ở viện mồ côi. Hai anh em cùng mồi côi cha mẹ từ sớm. Hai anh em đi lang thang một ngày trong thành phố, không có một đồng xu nhỏ. Buổi chiều, trước khi đưa em trở về viện, người anh dẫn em vào một công viên, yên lặng lấy đất đắp thành những mô hình sông núi quê hương, thầm nghĩ hai anh em trơ trọi giữa đời, thôi bầy trò chơi đắp hình, sông núi với em, để có được cùng em, dù một cách rất tội nghiệp buồn rầu, một ý niệm về điểm tựa, về nguồn gốc. Thật là chửng chạc và cũng thật là cảm động. Đó là truyện ngắn thứ nhất của Dương Nghiễm Mậu.

Sau này, ngắm nhìn một Dương Nghiễm Mậu đã nhanh chóng nổi tiếng, đã có hàng chục tác phẩm được in ra, có được thêm những nhận thức mới về cõi văn sáng rỡ một tâm thức thời đại vô chừng nghiêm chỉnh hiếm thấy ở một người viết trẻ, tôi vẫn mãi mãi nhớ đến hai đứa bé mồ côi đắp hình sông núi quê hương trong sáng tác Rượu Chưa Đủ tôi lượm được trong sọt rác một toà báo của Mậu. Một công viên vắng lặng. Công viên đó chính là hình ảnh con đường văn chương Mậu đã mở ra và đi trên đó, một mình. Những mô hình sông núi quê hương. Đứa nhỏ mồ côi nghiêm chỉnh, sớm hiểu biết, ý thức trong truyện cũng chính là Dương Nghiễm Mậu, đã đắp xong và rất hoàn chỉnh, những mô hình sông núi cho cõi văn, cõi viết của mình.

Tuần lễ trước đây, ở một lá thơ của một người bạn thân gởi sang từ Sàigòn, có một đoạn bạn tôi vắn tắt cho hay về Dương Nghiễm Mậu sau 1975. Dương Nghiễm Mậu không đi năm 1976, phải trình diện học tập cải tạo, bị giam ở trại tập trung Phan Đăng Lưu Gia Định, hơn một năm sau được thả về cùng một đợt với Hoàng Anh Tuấn, Nguyễn Hữu Hiệu, Nhã Ca. Thư kể Mậu bây giờ làm việc ở một xưởng sơn mài thành phố, vẫn sống cùng vợ con trong ngôi nhà cũ vùng ngoại ô Trương Minh Ký, một đời sống từ lâu đã biết làm cho đơn giản đến tận cùng khiến nghèo túng đến mức nào cũng không còn là thảm kịch, và dẫu ở cảnh ngộ nào cũng thư thái ung dung. Thư kể Mậu đi bộ khoan thai trên hè phố, cái dù đen nơi tay, cái nhìn hóm hỉnh, nụ cười tươi tắn. Đúng là Dương Nghiễm Mậu, vẫn là Dương Nghiễm Mậu ấy, sau Rượu Chưa Đủ đến tìm tôi và đưa thêm những truyện mới, những sáng tác mở đầu cho sự nghiệp văn chương tốt đẹp này của Mậu đều được trang trọng giới thiệu trên tờ Sáng Tạo Bộ Cũ và Bộ Mới. Nụ cười tươi tắn, cái nhìn hỏm hỉnh. Đúng là Dương Nghiễm Mậu, độc lập một trời riêng, tách biệt một đường riêng, phản chiếu trong văn viết và trong một tấm hình nổi tiếng độc đáo của Trần Cao Lĩnh, Mậu nhắm mắt mĩm cười dưới một mặt kim đồng hồ kim phút kim giờ cùng ngộ nghĩnh rớt xuống.

Sau biến cố 1975, trước khi bị truy nã và do đó đứt hết liên lạc bằng hữu, tôi còn gặp Dương Nghiễm Mậu nhiều lần. Một lần ở cổng xe lửa số 6. Trời râm mát mà tác giả Địa Ngục Có Thật vẫn chiếc dù đen trong tay, như một vật tùy thân. Mừng rỡ đứng lại trò chuyện giữa tan hoang Cộng Sản đã vào. Mậu cười nói với tôi: "Nhiều chuyện lạ lắm sắp xảy ra, đây chỉ là bắt đầu và anh em mình sắp nhìn thấy". Rồi kể là đã sắp đặt tức khắc xong xuôi đời sống. Đã đơn giản còn chỗ đơn giản hơn nữa. Đã thu hẹp còn cho thu hẹp hơn nữa. Để lúc nào phải đi thì đi.

Ít lâu sau, quả nhiên Dương Nghiễm Mậu đã "phải đi", cùng với anh em văn nghệ sĩ miền Nam. Đi thẳng vào trại tập trung Phan Đăng Lưu. Một lần khác, gặp trên hè đường Tự Do, xế cửa nhà sách Xuân Thu. Mậu, một cây dù Tú Xương, tay kia xách một túi giấy, nói ở trong là một cái chăn len, đồ dùng quý nhất còn lại trong nhà, và Mậu đang trên đường ra chợ trời Tôn Thất Đạm bán lấy ít tiền đem về cho vợ mua gạo.

Kinh xang

Kể chuyện khốn quẫn mà cười thật vui, nét mặt sinh hoạt, ánh mắt riễu cợt. Sau 1975, tôi đã nhìn thấy ở nghệ sĩ ta một số bản lĩnh chói loà. Những phong thái trầm tĩnh, những bản ngã dũng liệt, trong nghịch cảnh mới như một đường kiếm tuốt ra khỏi vỏ, mới lấp lánh hiện hình. Nhưng tươi tắn, vững vàng và trong sự trẻ trung đặc biệt, gần như không có tuổi, thì là Dương Nghiễm Mậu thôi. Chỗ này là chỗ nói đến võ công thâm hậu, đến tư duy đạt thành và kín thầm nhưng đoán thấy, sự kiêu hãnh tuyệt của người nhà văn nơi Dương Nghiễm Mậu.

Lần sau cùng gặp, thời gian này Mậu vừa được trả tự do, là chiếc dù đen hiền triết tôi nhìn thấy ở trước rạp chiếu bóng Trương Minh Giảng. Lần đó, kẻ bên này đường, kẻ bên kia, tôi đang bị truy lùng ráo riết, nên chỉ nhìn nhau gật đầu, vẫy tay chào không ai đứng lại. Khoảnh khắc ngắn ngủi nhưng tôi nhớ vừa đi vừa còn nhìn lại, nhìn cây dù đen văn chương xa dần, lòng đầy quý mến.

Bạn hữu còn kể ít nhiều chuyện về hơn một năm lao tù của Mậu ở Phan Đăng Lưu. Như về cái thái độ trầm tĩnh của Mậu đã có một ảnh hưởng rất tốt đẹp với anh em cùng tù, đặc biệt là với Nhã Ca, bao nhiêu năm vẫn trước sau kính trọng Dương Nghiễm Mậu như một người anh lớn. Biết Nhã Ca ngạo ngược nóng nảy, Mậu vắn tắt khuyên: "Cô còn phải trở về nuôi tụi nhỏ", và kèm sát Nhã Ca trong những buổi học tập kiểm thảo. Phải nên có thái độ nào cho đúng, kiểm thảo như thế nào mới là khôn ngoan, an toàn, nhất nhất Nhã Ca đều chịu nghe theo những chỉ dẫn của anh "Dương Nghiễm Mậu". Một chuyện ngộ nghĩnh về Phan Đăng Lưu: Buổi sáng hai anh em được trả tự do, Nhã Ca có người đến đón ở cửa trại, Mậu không có ai, Nhã Ca còn 5 đồng trong túi, Mậu không có một đồng nào. Nhã đưa cả 5 đồng cho bạn, để đi xe. Mậu cầm tiền cười lớn: "Anh là ông vua đi bộ ở Sàigòn, cần gì xe cộ nữa" và dùng 5 đồng của Nhã Ca ung dung vào quán uống cà phê. Chi tiết này đủ cho thấy bản lỉnh Dương Nghiễm Mậu trong nghịch cảnh.


Một chuyện ngộ nghĩnh khác, vẫn về Phan Đăng Lưu. Chẳng hiểu vì lý do nào cùng với Lê Xuyên tác giả Chú Tư Cầu, Mậu là một trong hai tù nhân văn nghệ bị quản huấn bỏ quên lâu nhất. Mãi gần nửa năm sau, mới được gọi tên. Cuộc thẩm vấn tức cười không thể tả được:

- Dương Nghiễm Mậu. Tên thật Phí Ích Nghiễm.

-    Sao lại những hai tên?
-    Một tên cha mẹ đặt. Một tên vì nghề nghiệp.

Quản huấn lắc đầu, Mậu không có một hồ sơ tội phạm. Đành hỏi:
- Anh bị bắt vì tội gì?
- Tôi không biết.

- Vô lý. Phải có tội mới bị bắt. Anh làm nghề gì?

Mậu nửa đùa nửa thật:

- Nghề văn nghệ sĩ.

Tên quản huấn dốt nát chẳng hiểu nghề văn nghệ sĩ là cái nghề quỷ gì, nhưng nét mặt rạng rỡ:

- Có thế chứ. Vậy tôi ghi vào hồ sơ tội trạng anh, anh nhớ kỹ nhé, tội anh là tội văn nghệ sĩ.

Tội văn nghệ sĩ. Tếu thật. Nhưng cũng là sự thật. Tác phẩm Dương Nghiễm Mậu, sau 1975, cũng bị đem ra trưng bày tại phòng Triển Lãm Tội Ác Mỹ Ngụy như sách của chúng tôi. Nội dung những tác phẩm Dương Nghiểm Mậu cũng bị đem ra mổ xẻ và đả kích thậm tệ ở các lớp học, các buổi họp và trên đài phát thanh Cộng Sản. Cái "tội văn nghệ sĩ" do tên quản huấn dốt nát định cho Mậu ở buổi thẩm vấn Phan Đăng Lưu, tôi biết. Mậu công nhận và còn thầm công nhận mãi. Như một ở cùng cảnh ngộ với bằng hữu. Như một tin tưởng vĩnh viễn ở chính mình, và qua bản thân, ở văn chương. Văn chương với Dương Nghiễm Mậu, mang ý nghĩa tốt đẹp nhất và toàn vẹn nhất của một tự thành. Con đường đi vậy là trước sau thông suốt. Những bước chân đi trên con đường ấy vậy là đã tới. Tôi vẫn nghĩ trở lại cái truyện ngắn đầu tay Rượu Chưa Đủ của Dương Nghiễm Mậu tôi nhặt được trong một cái sọt rác và đăng lên một số Sáng Tạo năm nào. Đứa trẻ mồ côi im lặng đào đất chơi trò đắp hình sông nước quê hương. Trò chơi tuyệt vời ấy đã hoàn tất. Nó cũng là cái trò chơi chúng ta cùng nhìn thấy là tuyệt vời và đã hoàn tất, bằng văn chương của người viết văn đi một mình trên con đường mình là Dương Nghiễm Mậu.

Tin nhà đưa sang cho biết hiện giờ nhà văn Dương Nghiễm Mậu đã trở thành công nhân một xưởng sơn mài thành phố. Bằng hữu văn nghệ ở Sài Gòn gần như trên hết thảy đã ngừng viết và đã phải đổi nghề. Để sống. Để có lao động, để được yên thân. Nghe nói Nguyễn Thụy Long đi đạp xích lô. Nghe nói Trần Lê Nguyễn bán sách cũ. Nghe nói Nguyễn Đình Toàn nuôi thỏ nuôi gà ở làng Báo Chí cũ. Tất cả đểu dãi dầu, tất cả đều sương nắng. Nghe những tin nhà về bạn bè, thấy lòng xót xa buồn rầu, nhìn thấy những khổ cực đang chồng chất lên những thân thể chữ nghĩa thất thế và đang phải sống giữa chế độ hiện giờ của chúng ta. Riêng nghe tin Dương Nghiễm Mậu bây giờ làm công nhân một xưởng sơn mài thành phố, không hiểu sao tôi lại thấy vui vui và muốn cười. Có lẽ vì Dương Nghiễm Mậu bao giờ cũng đến với tôi bằng khuôn mặt đó. Khuôn mặt một người nhắm cả hai mắt lại, cho cái nhìn trở thành cái nhìn bên trong, cái nhìn tâm hồn, và nụ cười tủm tỉm hóm hỉnh là chân dung Mậu ở tấm hình chân dung ngộ nghĩnh của Trần Cao Lĩnh. Cũng có lẽ vì tôi thấy Mậu vững chãi nhất, chẳng phải buồn phiền và xót xa cho hắn. Công nhân một xưởng sơn mài thành phố. Cây dù đen Tú Xương. Đúng là cảnh "Sáng vác ô đi tối vác về" rồi nhé. Dương Nghiễm Mậu! Những tấm sơn mài. Cây dù bên cạnh. Tôi đang hình dung ra Dương Nghiễm Mậu ngồi một mình một góc trong một xưởng thợ Cộng Sản, trước những tấm sơn mài ấy. Muốn hỏi Mậu ở Việt Nam nghìn dặm : "Những tấm sơn mài ấy có vẽ hình sông núi quê hương?" Chắc là có. Chắc là có. Không trên tranh thì trong tim, trong hồn, trong thức, trong ý. Và cái nền của sơn thì vẫn là một con đường. Con đường đi qua đời sống. Con đường đi qua văn chương. Con đường đẹp nhất, vì con đường thẳng tắp. Con đường đẹp nhất, vì là con đường một mình. Cuối cùng là đứa trẻ mồ côi trong truyện ngắn đầu tay Rượu Chưa Đủ của Dương Nghiễm Mậu sự thực không bao giờ mồ côi. Mồ côi là những kẻ khác kia.

MAI THẢO © Copyright Mai Thảo
Trích dẫn (0)

                





Thứ Sáu, 26 tháng 6, 2009

CHUYỆN TÌNH BUỒN

 

 

 

 

 

    NGUYỄN TẤT NHIÊN  VÀ

               PHẠM DUY

 

 

 

 

              

           NGUYỄN TẤT NHIÊN


Trong một entry trước đây có lần tôi đã đề cập đến thơ của Nguyễn Tất Nhiên , tuy nhiên tôi chưa nói đến thân thế , sự nghiệp của ông . Nay một lần nữa tôi lại đề cập đến Nguyễn Tất Nhiên , một nhà thơ lớn ở thế hệ chúng ta với đôi nét sơ lượt về cuộc đời, số phận của nhà thơ . 


    Tài liệu sưu tập nầy tôi trân trọng tặng cho Kim Dung và Ngọc Yến , những người làm thơ nghiệp dư nhưng có thừa tâm hồn của một nhà thơ lớn .

                                        Hè, 2009                                        

 

Bang lang10


                                                                                            

                                               TIỂU SỬ


  Nguyễn Tất Nhiên tên thật là Nguyễn Hoàng Hải, sinh ngày 30 tháng 5 năm 1952 tại quận Đức Tu, tỉnh Biên Hòa và mất ngày 3 tháng 8 năm 1992 tại California, là nhà thơ của miền Nam Việt Nam trong các thập niên 60 và 70.


   Sự nghiệp của Nguyễn Tất Nhiên thời gian đầu không mấy thành công: thơ ông in ronéo tặng không cho các nữ sinh đều bị quăng vào thùng rác. Cho đến khi thơ ông được một số thầy giáo gửi đăng báo Sáng Tạo của Mai Thảo, rồi Phạm Duy, Nguyễn Đức Quang thấy đó mà phổ nhạc thì mới bắt đầu nổi tiếng.


   Theo lời kể của nhà thơ Thái Thụy Vy: “hồi chưa nổi tiếng, trời nắng chang chang mà anh ưa mặc cái manteau mua ở khu Dân sinh, mồ hôi nhễ nhại, ưa đạp xe đạp đi cua cô em Bắc Kỳ nho nhỏ tên Duyên…”


   Sau ông lấy vợ có tên là Minh Thủy, là người sau khi ông mất đã tranh chấp với gia đình ông bản quyền tập thơ “Minh khúc”.


   Sau năm 1975, Nguyễn Tất Nhiên sang Mỹ, tiếp tục làm thơ. Ngày 3 tháng 8 năm 1992, người ta thấy ông nằm chết trong một xe hơi cũ, đậu dưới bóng cây trong sân chùa tại California.


  Tác phẩm đã in


   • Nàng thơ trong mắt (1966, cùng với Đinh Thiên Phương)
   • Dấu mưa qua đất (1968, cùng với bút đoàn Tiếng Tâm Tình)
   • Thiên Tai (Thơ, 1970)
   • Thơ Nguyễn Tất Nhiên (Thơ góp nhặt từ 1969-1980, nhà xuất bản Nam Á -  Paris in lần đầu tiên)
  • Những năm tình lận đận (tập nhạc 1977-1984, nhà xuất bản Tiếng Hoài Nam)
   • Chuông mơ (Thơ từ năm 1972-1987, nhà xuất bản Văn Nghệ - California)


   Thơ của Nguyễn Tất Nhiên nổi tiếng với những tác phẩm viết về cảm tình tuổi trẻ, bằng cách đào sâu vào cảm xúc, tư tưởng của con người. Ông thổi một làn gió mới vào thơ Việt Nam với đầy những ý tưởng kỳ lạ: Người yêu là dao nhọn (trong bài Khúc buồn tình), là tín đồ duy nhất: "Tín đồ là người tình, người tình là ác quỷ, ác quỷ đầy quyền năng", còn tôi "là linh mục, giảng lời tình nhân gian", một cách ẩn dụ táo bạo để nói về cái tình cảm âu yếm trong đau khổ, lạc quan trong bi thiết của người yêu, được thể hiện bằng những lời lẽ bông đùa nhưng ngụ ý sâu cay. Nhiều bài khác thì gợi nên hình ảnh của tuổi học trò, vừa hồn nhiên, vừa nghịch ngợm ("Duyên của ta tình con gái Bắc", "Bởi yêu em nên sầu khổ dịu dàng")...


   Thơ của ông do đó được đón nhận như một hiện tượng, cùng với sự quan tâm của các nhạc sĩ nổi tiếng lúc ấy như là Phạm Duy, Nguyễn Đức Quang, những dòng thơ kỳ lạ đã được phổ biến hầu khắp, được nhiều giới yêu thích.

 

                                                     

Lucbinh1

 

  

                        KHÚC TÌNH BUỒN


    Người từ trăm năm
    về qua sông rộng
    ta ngoắc mòn tay
    trùng trùng gió lộng
 
    (thà như giọt mưa
    vỡ trên tượng đá
    thà như giọt mưa
    khô trên tượng đá
    có còn hơn không
    mưa ôm tượng đá)

    Người từ trăm năm
    về khơi tình động
    ta chạy vòng vòng
    ta chạy mòn chân
    nào hay đời cạn
 
    (thà như giọt mưa
    vỡ trên tượng đá
    thà như giọt mưa
    khô trên tượng đá
    có còn hơn không
    mưa ôm tượng đá)
 
    Người từ trăm năm
    về như dao nhọn
    ngọt ngào vết đâm
    ta chết âm thầm
    máu chưa kịp đổ
 
    (thà như giọt mưa
    vỡ trên tượng đá
    thà như giọt mưa
    khô trên tượng đá
    có còn hơn không
    mưa ôm tượng đá)
 
    (2)
    Thà như giọt mưa
    gieo xuống mặt người
    vỡ tan vỡ tan
    nào ta ân hận
    bởi còn kịp nghe
    nhịp run vồi vội
    trên ngọn lông măng
 
    (người từ trăm năm
    vì ta phải khổ) 

 

14

                     

                                                                         (1970)


      Nhận xét

    Có người nhận xét thấy cuộc đời nhà thơ Nguyễn Tất Nhiên cũng tương tự như cuộc đời của họa sĩ Van Gogh của Hà Lan. Cả hai cùng sống hết mình cho văn học nghệ thuật, rồi có thời bị khủng hoảng tâm thần và cuối cùng tự sát. Cả hai người đều chết trong thập niên 40 của cuộc đời.


    Ta phải khổ cho đời ta chết trẻ
    Phải ê chề cho tóc bạc với thời gian
    Phải đau theo từng hớp rượu tàn
    Phải khép mắt sớm hơn giờ thiên định


    Đây là những câu thơ tiền định trích trong bài Giữa trần gian tuyệt vọng làm năm 1972, lúc Nguyễn Tất Nhiên mới 20 tuổi. Những câu thơ nầy được khắc trên tấm mộ bia của ông. Mộ Nguyễn Tất Nhiên nằm trong Vườn vĩnh cửu trong nghĩa trang Westminster phía tây Little Saigon, California. Rất thường xuyên những người du khách Việt đến thăm khu phố Bolsa Little Saigon có ghé ngang qua thăm mộ người thi sĩ.

                                                                          Trích Wikipedia  


                        http://www.thica.net/category/tat-ca/nguyen-tat-nhien/page/2/

 

Phamduy

                                                Phạm duy 2008

   Phạm Duy khi dùng bài thơ nầy phổ nhạc có thêm một số đọan rất hay :

    ..." Người từ trăm năm về phai tóc nhuộm
        Người từ trăm năm về phai tóc nhuộm
        Ta chạy mù đời, ta chạy tàn hơi
        Quỵ té trên đường đời, sợi tóc vướng chân người "...

       Và :

    ..."Người từ trăm năm về ngang trường Luật
        Người từ trăm năm về ngang trường Luật
       Ta hỏng Tú Tài, ta đợi ngày đi
        Đau lòng ta muốn khóc, đau lòng ta muốn khóc" ...
      
       ( Những năm đó hỏng Tú Tài là phải đi lính )